Truyện ngắn “TRỞ LẠI VƯỜN XƯA”

ngày 24.10.26


TRỞ LẠI VƯỜN XƯA

Truyện ngắn phóng tác từ bài thơ cùng tên

Trở Lại Vườn Xưa

1.

Tháng Tám trời mưa.

Mưa lất phất rơi từng chặp, từ lúc bình minh ló dạng cho đến khi bóng chiều đã chìm xuống sau những luỹ tre đầu làng. Mưa không lớn lắm, nhưng dai dẳng như thể trời đất đang có điều gì u uất trong lòng, không sao nói được thành lời nên đành để nó trôi theo dòng nước.

Tôi về đây làn nầy là để thăm viếng mồ mả Ba Mẹ. Bao năm phiêu bạt xứ người, lòng tôi vẫn canh cánh nỗi nhớ quê nhà, nhớ những người thân đã khuất mà mình không thể thường xuyên hương khói. Cũng nhân chuyến trở về, tôi muốn tìm lại những dấu vết của một thời đã xa, nơi từng có tuổi thơ tôi và một mối tình đầu tưởng sẽ theo mình đi suốt cuộc đời.

Xưa tôi đã rày đây mai đó trên khắp các chiến trường kể từ sau ngày nàng bước sang ngang. Tôi đang đứng trước cánh cổng gỗ đã bạc màu, tay cầm chiếc dù đen cũ, lặng nhìn khu vườn trước mặt…

Mười năm. Đúng mười năm giờ mới trở lại nơi này. Cánh cổng ngày xưa sơn xanh, giờ đã bong tróc gần hết. Hai trụ cổng phủ rêu, dây bìm bìm bò lan qua những thanh gỗ mục. Con đường đất dẫn vào vườn loang loáng nước mưa, hai bên cỏ dại mọc cao đến đầu gối. Xa hơn một chút, dưới màn mưa trắng đục, những hàng cau vẫn đứng thẳng tắp, lặng lẽ vươn lên trời như đang chờ đợi người về.

2.

Đẩy cổng bước vào. Tiếng kẽo kẹt khô khốc vang lên, nghe như tiếng thở dài của một người đã già. Mùi đất ẩm, mùi lá mục thoảng trong gió ùa đến. Tôi đứng khựng lại. Có những mùi hương tưởng đã mất hút trong trí nhớ, vậy mà chỉ cần một cơn gió đưa về, cả một quãng đời xa xăm lập tức sống dậy, rõ ràng cho tôi cảm tưởng mình đã rời xa nơi nầy không lâu.

Tôi bước đến giàn trầu phía bên trái, những chiếc lá xanh mướt chen chúc nhau, rung rinh trong mưa. Một vài dây trầu đã bò lên thân cau, quấn quýt như những cánh tay nhỏ bé ôm lấy người mình thương.

Tôi đưa tay chạm vào một chiếc lá. Lạ thật! Cây cối chẳng biết thời gian là gì. Người đi xa có thể già đi, tóc có thể bạc, những cuộc tình có thể tan vỡ, nhưng những dây trầu vẫn cứ xanh, thân cau vẫn cứ lớn, mặc cho những người từng chăm sóc chúng đã trôi dạt về đâu.

Tôi cúi xuống nhặt một chiếc lá nâu rụng dưới chân. Ngày xưa, em thường chọn những chiếc lá như thế này, nâng niu vuốt nhẹ rồi đưa lên ngắm nghía, bảo rằng dây trầu cũng có biết làm đẹp – lá tốt ở lại, lá sâu rụng rớt đi. Tôi đã cười ha hả, nói đó là lẽ đương nhiên. Vậy mà nàng giận, quay mặt đi, khiến tôi phải dỗ dành mãi. Cuối cùng mới mở miệng:

– Sau này anh đừng chọc quê em nữa nghen! Kiểu cười của anh không khác gì nói em ngốc.

– Ừ, chừa. Anh chỉ chê người nào không biết thương em thôi.

– Vậy nếu sau này anh không thương em nữa thì sao?

– Làm gì có chuyện đó! Anh chỉ lo điều ngược lại.

– Xí! Lãng nhách!

Bây giờ, đứng giữa khu vườn cũ, tôi mới thấy rằng, có những câu nói tưởng như vu vơ mà lại vận vào duyên phận con người. Tôi khép chiếc lá trong lòng bàn tay, rồi chậm rãi đi sâu vào vườn.

Ngày ấy, khu vườn chưa có vẻ già nua như bây giờ. Có lẽ thiếu bàn tay con người chăm sóc. Nhà tôi nằm cuối con đường làng, mái ngói âm dương phủ rêu, trước sân có cây khế già, bên hông là một giàn trầu xanh um và phía sau là mấy hàng cau thẳng tắp. Cha tôi là người kỹ tính, quanh năm chỉ biết chăm chút mảnh vườn, sửa sang hàng rào, vun đất gốc cây. Mẹ tôi tính tình hiền lành, ít nói, cả đời quanh quẩn với bếp núc và những công việc lặt vặt trong nhà.

Nàng là con gái út, có đôi mắt đen, nụ cười tươi và cái tính vừa dịu dàng vừa bướng bỉnh. Nhà nàng cách nhà tôi chỉ một khoảng đường không xa lắm, nhưng khi xưa còn bé, từ xóm trên qua xóm dưới với đôi chân bé nhỏ quả là một khoảng đường dài. Chúng tôi cùng học một trường nhưng nàng sau tôi hai lớp. Trên đường đến trường nàng phải qua ngõ nhà tôi. Khi thấy bóng dáng nàng là tôi chào ba mẹ cùng nàng đến lớp. Chúng tôi ngày càng thân thiết nhau. Thế rồi… bỗng bắt đầu biết e ngại khi ở quanh lũ bạn tinh nghịch; chúng nó hay cặp đôi hai đứa trong những lúc nô đùa.

Tôi còn nhớ, ngày ấy, nàng có một mái tóc dài, thường được mẹ chải rồi cột gọn bằng sợi dây thun màu hồng. Mỗi khi chạy nhảy ngoài sân, búi tóc tung tăng trông rất nhí nhảnh. Nàng có nước da trắng, đôi mắt đen láy và cái miệng lúc nào cũng như sắp sửa cười. Đặc biệt, mỗi khi giận, nàng không khóc ngay mà chỉ mím môi, quay mặt đi, làm ra vẻ chẳng thèm quan tâm đến ai. Nhưng chỉ cần tôi chịu khó năn nỉ một chút, hoặc nhẹ nhàng đặt vào tay nàng một món quà vặt, thì mọi giận hờn lập tức tan biến.

Thuở ấy, chúng tôi chưa biết thế nào là tình yêu. Chỉ biết rằng đi đâu cũng muốn có nhau, chơi trò gì cũng muốn đứng chung một phe, và hễ hôm nào một trong hai đứa vắng mặt thì cuộc vui dường như mất đi một ít.

Những buổi chiều, lũ trẻ trong xóm thường tụ tập ngoài bãi đất trống gần con suối, chơi trốn tìm, đánh đáo, nhảy dây hoặc đuổi bắt. Tôi bao giờ cũng tìm cách đứng về phía nàng. Nếu nàng bị thua, tôi tìm cách bênh vực; nếu nàng bị đứa nào chọc ghẹo, tôi lập tức ra mặt. Có lần, một thằng bạn chung lớp nhưng lớn hơn tôi vài tuổi cố tình giật chiếc nơ trên tóc nàng rồi bỏ chạy. Nàng đuổi theo không kịp, đứng khóc tức tưởi. Tôi nổi quạu, chạy theo giành lại chiếc nơ. Hai đứa xô xát đến nỗi cả hai cùng bị trầy đầu sứt trán.

Chiều hôm đó, mẹ tôi vừa lau chùi vết thương vừa mắng, “Mầy lớn đầu rồi mà còn đánh nhau vì mấy chuyện con nít!”

Tôi cúi đầu chịu trận, chẳng dám nói một lời, nhưng dặn lòng, nếu có xảy ra nữa, tôi vẫn sẽ đánh nhau với thằng quỷ sứ đó. Nó là thằng đầu têu chọc ghẹo chúng tôi nhiều nhất. Mà tôi nghĩ nó có vẻ cũng thích nàng nữa.

Hôm sau, nàng đến nhà, trên tay cầm một gói bánh ít lá gai. Nàng biết tôi rất thích bánh ít lá gai mẹ nàng làm.

Nàng đặt gói bánh xuống bàn, ngồi bệt xuống sàn nhà, tự tay kéo ống quần của tôi lên, nhìn đầu gối rồi hỏi:

– Còn đau không?

– Không.

– Xạo! Hôm qua anh đi cà nhắc thấy rõ.

– Đau một chút thôi.

Nàng im lặng, lấy từ trong túi áo ra một miếng băng cá nhân, cẩn thận dán lên vết trầy, miệng thôi vù vù. Nang bảo, “Lần sau đừng đánh nhau nữa nghen. Lỡ bị thương nặng thì sao?”

Tôi nhìn nàng, chợt thấy mình có thể làm bất cứ điều gì chỉ để được nghe nàng nói những lời như vậy. Nhưng những rung động đầu đời thường đến rất khẽ. Chúng len nhẹ vào lòng qua những chuyện nhỏ nhặt như vậy. Nhưng phải nhiều năm sau, chúng tôi mới nhận ra rằng chúng tôi đã bắt đầu yêu nhau từ độ ấy.

Tôi không nhớ chính xác thời gian nào. Có lẽ là một buổi chiều nàng ngồi bên bờ suối, lấy chiếc lá dừa làm quạt, vừa quạt cho tôi vừa kể chuyện ở lớp. Cũng có thể là một buổi sáng, khi tôi dậy muộn, nàng đứng chờ ở đầu ngõ, tay cầm hai bánh ít, một dành cho tôi một cho nàng. Hai đứa vừa đi vừa nhai. Hoặc giả, tình cảm ấy đã âm thầm nảy mầm từ những ngày còn chân đất chạy quanh khu vườn, chia nhau từng trái ổi xanh, từng viên kẹo đậu phộng.

Rồi một ngày, tôi bắt đầu để ý đến những điều mà trước kia chưa bao giờ bận tâm. Tôi nhớ màu áo nàng mặc hôm qua, nhớ nàng thích ăn món gì, nhớ cả cách nàng nghiêng đầu mỗi khi không hiểu một câu chuyện. Tôi bắt đầu thấy những lần phải xa nàng dù chỉ một vài hôm cũng trở thành điều khó chịu. Chúng tôi lớn lên cùng với những thay đổi nhẹ nhàng ấy.

Năm chúng tôi bước vào bậc trung học, mọi chuyện bắt đầu khác đi. Nàng không còn là cô bé chạy chân đất ngoài sân, còn tôi cũng không còn là thằng nhóc sẵn sàng đánh nhau chỉ vì nàng bị chọc ghẹo. Chúng tôi đã biết ngượng khi nhìn nhau quá lâu, biết giả vờ thờ ơ khi nghe bạn bè nhắc đến tên người kia, và biết tìm những lý do hết sức vô lý để được gặp nhau.

Rồi khi nàng vào trung học cũng chung trường, dĩ nhiên khác lớp. Mỗi sáng, tôi chờ nàng đạp xe qua đầu ngõ để cùng đi. Một hôm, thấy nàng đi bộ tới, tôi cắt cớ nheo mắt hỏi:

– Ủa, hôm nay bắt anh chở đi phải không?

Nàng hứ một tiếng khá rõ, bĩu môi, ngó lơ rồi nói:

– Xe thằng em lấy rồi. Mà không phải anh cũng muốn được vậy sao!

Nói rồi, nàng ngồi lên bạc-ba-ga sau xe, một tay cặp sách ôm trước ngực, một tay giữ vào yên xe. Chiếc xe đạp lọc cọc chạy qua con đường làng còn đẫm sương, hai bên là những thửa ruộng xanh mướt. Có hôm trời nắng, nàng ngồi phía sau, vừa hát khe khẽ vừa dùng đầu ngón tay vẽ những vòng tròn vô thức trên lưng áo tôi. Có hôm trời mưa, chúng tôi phải ghé vào một mái hiên trú tạm, đứng sát bên nhau mà chẳng ai dám nói điều gì. Những khoảnh khắc ấy, đối với tôi, chúng là những mảnh ký ức đẹp nhất của một thời tuổi trẻ.

Một hôm, trên đường về, nàng bỗng hỏi:

– Anh có dự định gì cho tương lai chưa?

Tôi đang đạp xe, nghe vậy liền quay đầu lại:

– Tương lai gì?

– Thì sau này lớn lên, anh muốn làm gì?

Tôi suy nghĩ một lát.

– Ba mẹ anh muốn anh học Y khoa. Còn em?

Mắt nàng lơ đãng nhìn những thửa ruộng chạy dài bên đường, giọng nhỏ nhẹ:

– Em muốn làm cô giáo.

– Sao lại làm cô giáo?

– Vì em thích trẻ con. Với lại, em muốn sau này có thể tự lo cho mình, không phải phụ thuộc vào ai.

Tôi cười:

– Vậy anh làm bác sĩ, em làm cô giáo. Hai đứa mình tha hồ giúp người, giúp đời.

Nàng bật cười, lấy quyển vở đập nhẹ vào vai tôi.

– Anh lo học cho đàng hoàng đi rồi hãy tính chuyện giúp đời!

Tôi cũng cười theo, nhưng trong lòng bỗng nảy ra một ý nghĩ mà tôi chưa từng dám nói thành lời, “Khi tôi học xong, sẽ thưa với ba mẹ nhờ mai mối đến nhà nàng xin hỏi cưới ngay.”

Từ đó, chuyện học hành đối với tôi bỗng có thêm một ý nghĩa khác. Tôi không chỉ học vì cha mẹ, vì tương lai của bản thân mà còn vì muốn trở thành người xứng đáng với nàng. Mỗi lần gặp một bài toán khó, tôi lại nghĩ đến khu vườn trầu cau và lời hứa dạm ngõ mà mình vẫn thường đem ra đùa cợt. Tôi tự nhủ phải cố gắng, phải thi đậu, phải có một tương lai đàng hoàng để cuộc sống gia đình riêng không vất vả như Ba mẹ chúng tôi.

Tình yêu tuổi học trò đã cho tôi nhiều mơ mộng. Người ta chưa có gì trong tay, nhưng lại tin rằng chỉ cần có tình yêu, có lòng quyết tâm, thì mọi điều đều có thể thực hiện. Và chúng tôi đã tin như thế. Chính niềm tin ấy đã đưa hai chúng tôi đến gần nhau hơn, tưởng sẽ không có gì thay đổi.

Nhà nàng cũng có một khu vườn khá rộng. Phía trước là cây khế đến mùa rất sai trái, đứng kế bên giàn trầu. Phía sau cũng có trồng cau, chuối và một ít cây ăn trái khác. Giữa vườn có chiếc ghế đá đã sứt một góc, nơi cha nàng thường ngồi uống trà. Nhưng vào những buổi chiều, khi ông còn ngoài đồng hoặc bận việc gì khác, chiếc ghế ấy trở thành chỗ hẹn quen thuộc của hai đứa tôi.

Chúng tôi cũng cùng làm những công việc ở đây như bên vườn nhà tôi. Nàng thích ngồi nhặt lá trầu, còn tôi tỉa những nhánh cau khô hoặc nhổ cỏ mỗi khi cần đến. Công việc chẳng có gì khó khăn, nhưng chúng tôi có thể ngồi hàng giờ, nói hết chuyện trường lớp đến chuyện gia đình, từ những điều nghiêm túc đến những chuyện không đâu.

Một hôm, trong lúc đang vun đất quanh gốc trầu, tôi bỗng nói:

– Em có biết không, trầu cau là thứ người ta dùng trong lễ cưới.

Nàng không ngẩng đầu lên.

– Ai mà chẳng biết!

– Vậy em có biết vì sao anh thích trồng trầu cau không?

– Chắc tại anh thích làm vườn.

– Ai mà thích làm vườn. Anh nhất định sẽ không dính vào nông trang. Chỉ thích ở bên em.

Thoáng hồng đôi má, nàng ngước lên nhìn tôi, ánh mắt có vẻ cảnh giác.

Tôi cố làm ra vẻ nghiêm trang:

– Anh nghĩ em cũng có cảm nghĩ giống anh mà?

– …thì cũng, nhưng ai biết được ngày sau sẽ ra sao. Nhưng anh thích trồng cau trầu?

– Để sau nầy có sẵn trầu cau, anh sẽ nói với ba mẹ nhờ bà mai đem sang nhà em dạm ngõ và rồi dùng cho đám cưới hai đứa mình, khỏi phải mua ngoài chợ, vừa tốn tiền vừa không có ý nghĩa.

Nàng đỏ mặt, vội cúi xuống.

– Ai thèm lấy anh mà anh tính trước dữ vậy?

– Nếu em không thèm… anh thì anh trồng để dành cho người khác.

Nàng lập tức ngẩng mặt lên, quắc mắt.

– Anh dám!

Tôi cười lớn.

Nàng ném nắm lá trầu vào người tôi, rồi đứng dậy bỏ đi. Tôi phải chạy theo, nắm lấy tay nàng.

– Thôi, anh nói giỡn. Anh chỉ để hỏi cưới em thôi.

Câu nói ấy vừa thốt ra, cả hai đều im bặt.

Tôi nhìn nàng. Nàng nhìn tôi. Lần đầu tiên, giữa chúng tôi không còn những câu đùa để che giấu điều đã quá rõ ràng trong lòng.

Một lúc lâu sau, nàng khẽ hỏi:

– Anh nói thật không?

Tôi siết nhẹ bàn tay nàng.

– Anh thề.

Nàng lấy tay bịt miệng tôi rồi cúi đầu không nói gì nữa, tay nắm chặt bàn tay tôi. Chỉ vậy thôi, mà trong lòng tôi rộn rã một niềm vui.

Từ hôm ấy, khu vườn trầu cau hai bên trở thành nơi thường xuyên hẹn hò, và là nơi lưu giữ những lời hẹn ước mai sau. Tôi bắt đầu chăm sóc hàng cau cẩn thận hơn, vun từng gốc cây, nhặt từng chiếc lá khô. Nàng thì chăm chút những dây trầu, chọn những nhánh khỏe để dẫn lên giàn.

Tôi không biết phải dùng lời gì để diễn tả điều mình đang cảm nhận. Tôi chỉ biết rằng vào những buổi chiều ấy, khi nắng xuyên qua kẽ lá, khi nàng ngồi cạnh tôi dưới giàn trầu, tôi đã thật sự tin rằng cuộc đời mình sẽ gắn liền với người con gái ấy.

Chiếc cầu khỉ ở cuối vườn nhà nàng cũng là một phần không thể thiếu trong những ngày tháng ấy. Con suối không rộng lắm, nhưng nước chảy quanh năm. Mùa nắng, đáy suối lộ ra những phiến đá trơn bóng, nước trong đến mức có thể nhìn thấy những con cá nhỏ đang bơi. Mùa mưa, nước từ những cánh đồng phía trên đổ về, cuốn theo cành cây, lá mục, đôi khi dâng lên sát mép bờ.

Chiếc cầu khỉ nối khu vườn với con đường dẫn sang xóm bên kia. Nó cũ kỹ, chòng chành, thanh tre làm tay vịn đã nhẵn bóng vì bao nhiêu bàn tay người qua lại. Với người trong xóm, đó chỉ là một lối đi bình thường, nhưng với nàng, đi qua chiếc cầu nầy luôn là một thử thách. Thế mà cứ thích rủ tôi qua xóm bên kia chơi.

Nàng sợ độ cao, dù mặt cầu chỉ cách mặt nước một khoảng không đáng kể. Bất quá có rớt xuống cũng chẳng hề hấn gì ngoài ướt như chuột lột. Thế nhưng, với nàng vẫn là một thử thách mỗi khi đi qua, nhất là những hôm trời mưa lất phất. Không biết nếu không có tôi nàng có dám qua cầu một mình hay không. Mỗi lần nhìn nàng qua cầu tôi không nỡ đứng chờ. Tôi phải bước qua bên kia nắm lấy bàn tay nàng đang chờ đợi.

– Đưa tay đây!

Nàng chìa tay ra, nhưng chân vẫn đứng yên.

– Anh nắm chắc nghen!

– Biết rồi… nói mãi…

– Không được buông đó!

– Trời đất, anh mà buông thì em rớt xuống suối, ai chịu trách nhiệm?

Nàng nguýt tôi.

– Anh còn giỡn nữa!

Tôi đành nghiêm mặt, chìa cả hai tay ra.

– Nào, tiểu thơ, mời bước qua cầu!

Nàng bật cười, rồi từ từ đặt chân lên thân tre. Mỗi bước đi, nàng đều nắm chặt cánh tay tôi, có lúc gần như nép hẳn vào người tôi. Khi sang đến bờ bên này, nàng thường thở phào nhẹ nhõm, nhưng vẫn chưa chịu buông tay.

Tôi cố tình hỏi:

– Sao rồi? Còn sợ không?

Nàng lắc đầu.

– Hết rồi.

– Vậy sao còn nắm tay anh?

Nàng vùng vằng buông tay ra.

– Ai thèm nắm!

Tôi cười, còn nàng đỏ mặt, quay đi thật nhanh.

Có lần, sau khi sang cầu, nàng bỗng đứng lại, nhìn dòng nước đang lặng lẽ trôi dưới chân rồi nói:

– Anh à, nếu ngày nào đó không có anh, em sẽ cố gắng tập vượt qua.

– Sai lại “không có anh”? Mà qua đó làm gì?

– Thì anh đi học xa, hoặc đi làm ở đâu đó. Em ở nhà nhớ anh thì sẽ qua lại chiếc cầu nầy.

– Ừ nhỉ! Thì mai mốt anh nhìn em tập trước!

– Không chịu đâu! Khi nào anh đi xa thì em sẽ tập một mình thôi.

Tôi đưa tay vuốt nhẹ mái tóc nàng.

– Đừng lo. Anh đi đâu rồi cũng về với em.

Nàng ngước lên nhìn tôi, rồi mỉm cười. Tôi ôm nàng vào lòng. Nắng chiều từng sợi vàng rơi xuống vườn cau.

Những năm cuối trung học của tôi, tình cảm hai đứa ngày càng sâu đậm. Trong mắt bạn bè, hai đứa đã trở thành một đôi không cần ai xác nhận. Chỉ cần thấy tôi đứng chờ trước cổng trường, hoặc thấy nàng ngồi phía sau chiếc xe đạp cũ, người ta đã hình dung được tương lai.

Dù vậy, những lời trêu chọc cũng không vắng đi. Có hôm, một đứa bạn thân vỗ vai tôi, cười hề hề:

– Ê, mầy tính chừng nào đem trầu cau qua nhà người ta vậy?

Tôi giả bộ tỉnh bơ:

– Từ từ. Còn phải chờ trầu ra lá, cau ra buồng.

Nó cười ngặt nghẽo.

– Tao thấy mầy siêng làm vườn chỉ là lấy cớ.

Tôi đấm nhẹ vào vai nó, nhưng trong lòng lại thấy vui. Những lời đùa ấy, không hiểu sao, khiến chuyện cưới xin vốn xa xôi bỗng trở nên gần gũi, như thể chỉ cần vượt qua kỳ thi cuối cùng thì những ước mơ thầm kín sẽ tự nhiên trở thành sự thật. Mà “kỳ thi cuối cùng” vẫn rất xa trong khi kỳ thi cuối Trung học lại sắp tới. Kỳ thi sẽ định đoạt số phận tương lại của những chàng trai trong thời chinh chiến.

Nàng cũng bắt đầu nhắc đến tương lai nhiều hơn. Nàng nói sẽ cố gắng học tiếp, muốn trở thành cô giáo, muốn có một căn nhà nhỏ với khoảng sân đủ rộng để trồng hoa. Nàng còn bảo sau này nhất định phải có một giàn trầu trước nhà, vì trầu cau là thứ gắn liền với chuyện tình của hai đứa.

Tôi nghe, vừa cười vừa gật đầu.

– Được rồi. Em muốn gì anh cũng chiều.

Nàng nhìn tôi, nghiêm giọng:

– Đừng có hứa suông nghe.

Rồi bỗng. Nhiên nàng sụ mặt. Tôi giật mình lay vai nàng:

– Sao bỗng nhiên mặt mày buồn thiu vậy?

– Bác sĩ thường người ta ở thành phố mà!

– Nếu ở thành phố thì cũng sẽ có vườn cho em mà, lo gì!

Rồi cả hai cùng cười.

Đó là những ngày tháng đẹp đẽ nhất đời tôi. Những ngày mà chúng tôi có thể ngồi hàng giờ bên nhau mà không thấy chán, có thể cãi nhau vì những chuyện nhỏ nhặt rồi làm hòa chỉ bằng một nụ cười; có thể nói về tương lai như thể ngày mai chắc chắn sẽ đến đúng như điều mình mong đợi.

Nhưng cuộc đời không phải như một khu vườn được chăm sóc cẩn thận thì nhất định sẽ cho hoa thơm trái ngọt. Có những cơn giông đến từ phía chân trời mà người trong vườn không thể nhìn thấy. Có những biến cố không cần ai cho phép vẫn cứ xảy ra. Và có những mối tình, dù chân thành đến đâu, vẫn phải đối diện với những thử thách vượt quá sức chịu đựng của những người đang yêu. Tôi đã không biết điều đó hoặc có biết cũng chỉ là một thoáng qua. Tuổi trẻ của chúng tôi vẫn tin rằng những bất hạnh ấy chỉ dành cho người khác.

Kỳ thi cuối bậc Trung học đến gần. Những ngày ấy, tôi gần như không còn thời gian rảnh. Ban ngày học ở trường, tối về ngồi dưới ngọn đèn dầu, làm bài đến khuya. Cha tôi thường nhắc, “Con phải cố gắng. Thi đỗ là con đường duy nhất để sau này còn có tương lai.”

Tôi hiểu nỗi lo của cha. Gia đình tôi không khá giả, nhưng ông bà đã dành dụm tất cả những gì có thể để tôi được học hành đến nơi đến chốn. Tôi cũng hiểu rằng, đối với gia đình nàng, chuyện học vấn và công việc tương lai của người con trai sẽ là điều quan trọng nếu muốn có một tương lai rực rỡ.

Nàng cũng học rất chăm chỉ. Mỗi khi có thời gian, chúng tôi thường cùng nhau ôn bài ở khu vườn. Nàng ngồi bên chiếc ghế đá, trước mặt là chồng sách vở, còn tôi ngồi đối diện, cũng vùi đầu vào sách vở và giải những bài toán khó cho nàng. Thỉnh thoảng, nàng ngẩng lên hỏi:

– Anh có chắc lần này sẽ đậu không?

Tôi cười:

– Chắc chứ!

– Nếu không đậu thì sao?

Tôi nhìn nàng, giả vờ nghiêm nghị:

– Trời ơi! Đừng có ở đó mà trù ẻo!

Nàng bật cười, nhưng sau đó, lại trở nên trầm ngâm.

– Em chỉ sợ nếu có chuyện không may xảy ra! Thời buổi chiến tranh nghiệt ngã quá!

Tôi gấp quyển sách lại, bước đến ngồi cạnh nàng.

– Em nghe anh nói nè. Chuyện gì rồi cũng có cách giải quyết. Anh sẽ cố gắng hết sức. Chỉ cần em tin anh, vậy là đủ.

Nàng tựa đầu vào vai tôi, khẽ gật.

Tôi không biết rằng đó chính là một trong những lần cuối cùng chúng tôi có thể ngồi bên nhau mà không phải lo lắng về một cuộc chia ly.

Nhưng đời không như là mơ! Kỳ thi năm ấy, tôi đã không làm được như mong đợi. Khi danh sách trúng tuyển được dán trước văn phòng trường, tôi đứng giữa đám đông, nhìn đi nhìn lại nhiều lần. Tên tôi không có trong danh sách. Tôi đã rất tự tin nhưng không biết vì lý do gì tên tôi không thấy. Tôi nhìn từ trên cao nhất nhìn xuống. Rồi từ dưới nhìn lên. Càng lúc càng hoảng loạn. Tôi muốn ngã gục khi dò đi dò lại vài lần vẫn không thấy tên mình.

Trong khoảnh khắc ấy, mọi dự tính về tương lai dường như sụp đổ. Tôi không chỉ thất vọng vì bản thân mà còn thấy mình đã phụ lòng cha mẹ, phụ lòng cả người con gái đã tin tưởng và chờ đợi. Tôi đạp xe về nhà trong cái nắng gay gắt của buổi trưa. Con đường làng vẫn vậy, hàng tre vẫn rì rào trong gió, những thửa ruộng vẫn xanh mướt, nhưng trong lòng tôi, mọi thứ đều trở nên xa lạ, ghẻ lạnh.

Không lâu sau, nàng đến tìm tôi. Chỉ nhìn thấy gương mặt tôi, nàng đã hiểu. Nàng không hỏi kết quả. Nàng bước đến, nắm lấy tay tôi, nước mắt lặng lẽ rơi.

Tôi cúi đầu, không dám nhìn nàng.

– Anh xin lỗi.

– Anh có lỗi gì đâu?

– Anh đã hứa với em bao nhiêu chuyện. Vậy mà ngay cả kỳ thi này anh cũng không vượt qua nổi.

Nàng lắc đầu, nước mắt rơi nhiều hơn.

– Em đâu có cần anh phải thành công ngay. Em chỉ cần anh đừng bỏ cuộc.

– Không còn cơ hội nữa em ơi!!!

Tôi muốn ôm nàng vào lòng, muốn nói rằng tôi sẽ cố gắng nhiều hơn nữa, rằng tôi sẽ tìm cách để tương lai không bị khép lại chỉ vì một lần thất bại… Nhưng những lời ấy mắc nghẹn trong cổ họng, bởi tôi đã biết có những chuyện không còn nằm trong khả năng quyết định của riêng mình.

3.

Thời cuộc ngày càng bất ổn. Những lời bàn tán về chuyện nhập ngũ, về nghĩa vụ của thanh niên, về những biến động không thể đoán trước đã bắt đầu len vào từng ngõ xóm. Tôi chưa biết con đường phía trước sẽ dẫn mình đi đâu, chỉ biết rằng, từ hôm ấy, những giấc mơ từng được vun đắp dưới giàn trầu bắt đầu lung lay.

Buổi chiều cuối cùng trước khi tôi lên đường, trời không mưa nhưng bầu không khí oi nồng, nặng nề. Những đám mây xám lững lờ phía chân trời, báo hiệu một cơn giông sắp đến. Tôi sang nhà nàng như thường lệ. Nàng đang ngồi dưới giàn trầu, hai tay ôm quyển vở, nhưng đôi mắt không nhìn vào trang giấy. Thấy tôi, nàng đứng dậy, cố nở một nụ cười.

– Anh mới đến à?

Tôi không nói chỉ gật đầu. Chúng tôi ngồi xuống chiếc ghế đá. Không ai nói gì trong một lúc lâu. Cuối cùng, tôi lên tiếng:

– Anh sắp phải đi.

Nàng đã biết điều đó, nhưng khi nghe tôi nói, gương mặt vẫn tái đi.

– Khi nào?

– Sáng mai.

Nàng cúi đầu. Hai bàn tay đan chặt vào nhau.

– Sao anh không nói với em sớm hơn?

– Anh cũng mới biết.

Tôi nhìn nàng, thấy đôi mắt đã bắt đầu đỏ lên.

– Anh không biết bao giờ mới được về thăm. Nhưng anh sẽ viết thư. Anh sẽ tìm mọi cách để về thăm.

Nàng im lặng, rồi bất ngờ hỏi:

– Anh có còn nhớ lời anh hứa ở chiếc cầu khỉ không?

Tôi nhìn nàng.

– Nhớ chứ. Anh nói đi đâu rồi cũng về với em.

Nàng nhìn tôi, nước mắt bắt đầu trào ra.

– Vậy anh phải giữ lời đó nghe anh.

Tôi nắm lấy tay nàng.

– Anh sẽ cố gắng.

Nàng bật khóc. Tôi chưa bao giờ thấy nàng khóc như thế. Nàng không còn là cô bé ngày xưa chỉ cần một chiếc kẹo là quên hết giận hờn. Trước mặt tôi là một người con gái đã đủ lớn để hiểu rằng có những cuộc chia ly không biết ngày trở lại. Tôi ôm nàng vào lòng. Mái tóc nàng thoảng mùi bồ kết quen thuộc. Tôi muốn ghi nhớ mùi hương ấy, hơi ấm ấy, cả tiếng nấc nghẹn ngào đang rung lên trong lồng ngực nàng.

Ngoài vườn, những chiếc lá trầu lay động trong gió. Hàng cau đứng lặng. Con suối nhỏ vẫn chảy dưới chân cầu, bình thản như chưa biết sẽ có nhiều thay đổi từ nay. Phần tôi cũng không biết rằng, trong những năm tháng dài đằng đẵng phía trước, điều khiến tôi đau đớn nhất không phải những gian khổ của chiến trường, mà chính là lời hứa tôi đã từng nói với nàng. Một lời hứa được thốt ra bằng tất cả chân tình. Nhưng cuộc đời đôi khi không cho người ta cơ hội thực hiện những điều mình đã hứa.

Tôi đã ra đi vào sáng hôm sau, mang theo chiếc khăn tay nàng trao, những giấc mơ còn dang dở, và niềm tin rằng một ngày nào đó, tôi sẽ trở về khu vườn trầu cau để xin cưới người con gái đã chờ đợi mình từ thuở thiếu thời.

Tôi không hề biết rằng, trong lúc tôi đi qua những năm tháng chiến tranh, nàng cũng đang phải đi qua một cuộc chiến khác của riêng mình. Một cuộc chiến không có tiếng súng, không có chiến hào, nhưng cũng đủ sức làm tan vỡ những ước mơ mà hai đứa chúng tôi đã cùng nhau vun đắp.

4.

Tôi không biết mình đã đứng dưới giàn trầu bao lâu. Mưa vẫn rơi đều đều trên những tàu lá, từng giọt nước đọng ở đầu lá, nặng nề rơi xuống, rơi vào đám cỏ dại dưới chân. Phía sau nhà, những buồng cau đã ngả sang màu vàng nhạt. Một vài trái rụng nằm lăn lóc bên gốc cây bị mưa vùi lấp một nửa trong lớp lá mục. Tất cả vẫn còn đó, chỉ có những người từng chăm chút cho khu vườn này là đã không còn thuộc về những ngày xưa cũ nữa.

Tôi chợt nhớ đến một buổi chiều cách đây mười năm, khi nàng ngồi bên tôi, hai bàn tay thoăn thoắt nhặt những chiếc lá trầu sâu. Hôm ấy, tôi đã đùa rằng chỉ cần chờ thêm vài năm nữa, hàng cau sẽ cho đủ trái, giàn trầu sẽ đủ lá, tôi sẽ thưa với ba mẹ nhờ bà mai đem trầu cau sang nhà nàng dạm ngõ. Nàng cười, đuôi mắt cong lên, hỏi tôi: “Anh nói thật hay chỉ muốn nói cho em vui?” Tôi đã nắm tay nàng, quả quyết rằng đời này tôi chỉ cưới một mình nàng.

Vậy mà cuối cùng, tôi đã trở về quá muộn. Tôi không trách nàng. Suốt những năm tháng xa nhà, tôi đã nhiều lần tự hỏi nếu một ngày nào đó nàng không thể đợi được nữa, tôi sẽ làm gì? Tôi đã nghĩ đến mọi điều, trừ việc mình sẽ thật sự phải đối diện với ngày ấy. Trong những lá thư gửi về, tôi luôn bảo nàng hãy kiên nhẫn, hãy tin rằng rồi chúng mình sẽ có ngày đoàn tụ. Tôi viết về một mái nhà nhỏ, một khoảng sân đầy nắng, một giàn trầu xanh trước cửa và hàng cau đơm trái mỗi độ xuân về. Tôi luôn kể cho nàng nghe những dự định tương lai để an ủi nàng trong những ngày xa cách.

Nhưng tôi đã không biết rằng những lá thư ấy, dù được viết bằng tất cả tin yêu và hy vọng, cũng không thể thay thế một người luôn hiện diện bên cạnh nàng.

Nàng đã chờ tôi qua những mùa mưa nắng. Chờ từ ngày tôi còn là một chàng trai chưa có gì trong tay, cho đến khi những năm tháng tuổi trẻ của nàng dần trôi qua. Nàng chờ trong những ngày giỗ chạp, trong những buổi chiều nhìn người ta đưa đón nhau qua đầu ngõ, trong những đêm nghe tiếng gió lay giàn trầu, rít qua những hàng cau cao vút mà không biết khi nào tôi trở về để bù đắp cho nàng sau những năm tháng đã trôi qua. Có lẽ nàng cũng đã nhiều lần tự hỏi liệu tôi có còn giữ được lời hẹn ước năm xưa, liệu một ngày nào đó tôi có thật sự trở về.

Tôi còn nhớ buổi sáng mùa xuân năm ấy. Sau những năm tháng phiêu bạt, tôi được phép về thăm quê nhà trong một thời gian ngắn. Chuyến xe dừng ở đầu làng khi trời vừa sáng.

Tôi bước xuống, lòng rộn ràng như một đứa trẻ sắp được gặp lại người thân sau bao ngày xa cách. Trong chiếc ba lô cũ là vài bộ quần áo sờn vai, một ít quà mua dọc đường và món quà nhỏ tôi đã dành dụm từ lâu để mang về cho nàng.

Tôi đã hình dung ra cảnh nàng chạy ra đầu ngõ, vừa vui cười vừa khóc, trách tôi sao đi lâu đến thế… Và tôi sẽ xin lỗi, sẽ nắm lấy tay nàng, rồi đưa nàng đi qua chiếc cầu khỉ, trở về khu vườn trầu cau, nơi hai đứa từng hẹn ước với nhau bao lần. Tôi đã nghĩ mình sẽ không bao giờ buông tay nàng nữa. Nhưng khi về đến nhà, tôi mới biết nàng đã… bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng sông…”.

Tin ấy đến với tôi qua lời kể ngập ngừng của mẹ. Bà không nhìn thẳng vào mắt tôi, chỉ lặng lẽ đặt chén trà xuống bàn rồi nói rằng gia đình nàng đã tổ chức đám cưới cách đó ít lâu. Mẹ bảo chồng nàng là một người tử tế, có công việc ổn định, gia đình đàng hoàng chứ đâu có lang bạt kỳ hồ như con. Nó đã theo chồng về một nơi khác, cách làng chúng tôi không xa lắm.

Tôi đã ngồi bất động. Ngoài sân, nắng xuân rực rỡ. Tiếng trẻ con gọi nhau chạy chơi ngoài ngõ. Từ nhà ai đó bên xóm, tiếng nhạc cưới còn văng vẳng theo gió, lẫn trong tiếng cười nói rộn ràng của một ngày đầu năm.

Mẹ tôi nói thêm điều gì đó, nhưng tôi không nghe rõ. Tôi chỉ nhớ mình đã hỏi, bằng một giọng xa lạ đến mức chính tôi cũng không nhận ra, “Mẹ nói… nàng lấy chồng thiệt rồi sao?”

Mẹ gật đầu. Tôi cúi xuống nhìn đôi bàn tay mình. Những bàn tay từng nắm chặt tay nàng qua chiếc cầu khỉ, từng hứa sẽ đưa nàng đi hết cuộc đời, giờ đây chẳng còn biết phải làm gì. Tôi muốn hỏi tại sao nàng không đợi thêm một chút nữa, muốn trách nàng đã quên lời hẹn, nhưng rồi tôi chợt nhớ đến những lá thư mình gửi về, những lần hứa sẽ trở về mà vẫn không thực hiện được. Tôi đã để nàng chờ quá lâu. Có lẽ, nàng đã không còn đủ kiên nhẫn để tiếp tục đặt cả cuộc đời mình vào những lời hứa đã nhiều lần không hiện thực. Tôi hoàn toàn không có quyền trách nàng.

Buổi chiều hôm ấy, tôi tìm đến nhà nàng. Cánh cổng cũ vẫn còn đó, nhưng trước sân đã có những chậu hoa mới. Một chiếc xe đạp dựng bên hiên. Trên dây phơi, vài chiếc áo đàn ông đung đưa trong gió. Những dấu hiệu bình thường của một mái nhà đang có người chung sống, vậy mà đối với tôi, mọi thứ đều như một nhát dao cứa vào lòng.

Tôi đứng ngoài cổng rất lâu. Cuối cùng, mẹ nàng trông thấy tôi. Bà bước ra, nhìn tôi bằng ánh mắt vừa thương xót vừa ngượng ngập. Bà hỏi thăm vài câu, rồi ngập ngừng nói nàng không có ở đây, đã theo chồng về bên ấy từ mấy hôm trước. Có lẽ bà không muốn chúng tôi đau lòng rồi khơi dậy những điều không nên có. Tôi cúi đầu chào bà, quay đi mà không nói thêm lời nào.

Trên đường trở về, tôi đi ngang qua khoảng vườn của chúng tôi. Những buồng cau vàng nhạt đung đưa trên cao. Giàn trầu xanh mướt dưới nắng. Chiếc cầu khỉ bắc qua con suối nhỏ vẫn nằm đó, chòng chành theo từng cơn gió. Tôi bước đến đầu cầu, đứng nhìn sang bờ bên kia. Ngày xưa, nàng thường đứng ở đó chờ tôi qua để nắm lấy bàn tay, dìu nàng từng bước. Có những lần nàng cố tình đứng lại giữa cầu, ghì chặt tay tôi bảo rằng sợ ngã.

Tôi đã đứng một mình ở đầu cầu rất lâu. Không có ai chìa tay về phía tôi nữa. Dưới chân cầu, dòng nước vẫn trôi, mang theo những chiếc lá non vừa rụng xuống. Tôi chợt hiểu rằng có những lời hẹn, một khi đã lỡ, dù người ta có trở về đúng nơi chốn cũ, đúng con đường xưa, cũng không thể tìm lại được điều mình từng đánh mất.

Sáng hôm sau, tôi đã rời quê. Tôi cố không đến tìm nàng lần nữa. Tôi không có quyền làm xáo trộn đời sống riêng tư của nàng yên. Tôi nghĩ, nếu nàng đã chọn một cuộc đời khác, điều cuối cùng tôi có thể làm cho nàng là đừng đem quá khứ trở lại khuấy động cuộc sống hiện tại của nàng. Tôi đã mang theo món quà chưa kịp trao, cất nó vào đáy ba lô rồi lại lên đường. Mười năm yêu nhau, cuối cùng chỉ còn một món quà không có người nhận.

5.

Tôi đã sống qua nhiều nơi, gặp nhiều người, chứng kiến những cuộc chia ly và đoàn tụ. Tôi đã hiểu rằng con người không phải lúc nào cũng có thể giữ trọn những điều mình yêu quý. Có những người đi qua đời ta rồi ở lại mãi trong ký ức. Có những lời hứa chân thành đến tận cùng, nhưng cuối cùng vẫn không thắng nổi những đổi thay của cuộc sống.

Tôi cũng đã từng tự hỏi, nếu ngày ấy tôi thi đậu, nếu tôi không phải xa nàng lâu đến thế, nếu tôi có thể thực hiện một vài lần những lời hứa với nàng trong thư, và cuộc đời không xô đẩy chúng tôi vào những ngả đường khác nhau, liệu chúng tôi sẽ có thể sống với nhau trong căn nhà nhỏ bên khu vườn trầu cau đó hay không? Cũng có lẽ chúng tôi đã có những đứa con. Có lẽ nàng vẫn sẽ cằn nhằn mỗi khi tôi quên một lời hứa. Có lẽ những buổi chiều mưa, chúng tôi sẽ cùng ngồi dưới mái hiên nhìn từng giọt nước rơi và kể cho nhau nghe những chuyện không đầu không đuôi gì cả. Nhưng tất cả những thứ ấy giờ chỉ còn là ảo ảnh.

Thời gian không quay ngược để người ta thử sống lại một lần khác. Đường đời chia trăm nhánh, một khi chúng ta đã chọn đi về một hướng sẽ không thể tìm ra lối cũ. Tôi ngước nhìn hàng cau. Một buồng cau già đong đưa trong gió, những trái cau vàng nhạt nép vào nhau dưới tán lá. Tôi đưa tay chạm vào thân cây. Trên lớp vỏ sần sùi vẫn còn vết khắc tên hai đứa của nàng năm nào, tuy đã mờ đi vì mưa nắng. Không hiểu sao, tôi bỗng thấy thương nàng vô cùng. Thương cô bé năm nào đã tin rằng tình yêu có thể giữ hai người ở lại với nhau; thương người con gái đã chờ đợi suốt những năm tháng đẹp nhất của đời mình, và thương cả chàng trai ngờ nghệch ngày nào, cứ tưởng chỉ cần yêu thật lòng thì nhất định sẽ có được hạnh phúc mai sau.

Chúng tôi đã không ai phản bội nhau. Không có người thứ ba nào chen vào giữa hai đứa trong một thời gian khá dài, nhưng rồi… cũng không ai nói với ai một lời chia tay. Chỉ có thời gian. Chỉ có những năm tháng xa cách, những lá thư không thể thay thế một bàn tay, những ngày đợi chờ lỡ mất một thời con gái. Và cuối cùng, niềm tin yêu mòn mỏi với thời gian mà không ai có thể trách cứ ai. Tôi khẽ thở dài. Thôi, vậy cũng đành… Không biết tôi nói với nàng, nói với tôi hay với khu vườn đang lặng lẽ chìm trong mưa.

Mưa tháng tám dai dẳng không dứt. Tôi đi chậm về phía chiếc cầu khỉ. Những thanh tre ướt đẫm, bóng loáng dưới màn nước. Tôi đặt chân lên cầu, nghe tiếng tre khẽ rung dưới sức nặng của mình. Ngày xưa, mỗi lần qua đây, tôi đều chìa tay đón nàng. Bây giờ, tôi chỉ có thể tự bước qua, từng bước một, như đã tự mình đi qua bao nhiêu năm tháng không có nàng bên cạnh.

Đến giữa cầu, tôi dừng lại. Dòng nước bên dưới đã lớn hơn ngày xưa. Nước đục ngầu, chảy xiết, va vào những tảng đá ven bờ rồi cuốn đi. Không còn vẻ thơ mộng của những buổi chiều chúng tôi ngồi thả chân trên bãi cỏ, ngắm những con cá nhỏ bơi dưới làn nước trong veo. Tất cả như đã đổi khác, dù tôi biết dòng suối ấy vẫn chỉ đang tiếp tục chảy về một nơi cố định mà chẳng bận tâm đến những người từng đứng bên bờ.

Tôi nhìn sang phía bên kia, bất giác nhớ đến dáng nàng trong chiếc áo trắng, mái tóc dài buông xuống lưng, đôi mắt đen nhìn tôi đầy tin cậy. Tôi nhớ bàn tay nàng trong tay mình, nhớ những bước chân run rẩy của nàng trên cầu, nhớ tiếng nàng bật cười mỗi khi tôi cố tình trêu chọc, nhớ cả những háy nguýt nàng ném về phía tôi. Tôi nhớ cả những lần nàng giận dỗi quay mặt đi, bắt tôi phải năn nỉ mãi mới chịu làm hòa. Những điều ấy tưởng chừng nhỏ bé đến mức chẳng đáng để nhớ. Vậy mà giờ đây, khi mọi thứ đã trở thành ký ức, chúng lại vang vọng trở về.

Tôi bước xuống cầu. Con đường dẫn ra cổng vườn phủ đầy cỏ dại. Hai bên, những tàu lá chuối cúi đầu dưới mưa. Một cơn gió thổi qua, làm những giọt nước trên tán lá rơi xuống vai áo tôi lạnh buốt. Tôi quay lại nhìn khu vườn lần cuối. Hàng cau vẫn đứng thẳng. Giàn trầu vẫn xanh. Chiếc ghế đá vẫn nằm dưới tán cây khế già. Nhưng khu vườn không còn là nơi chờ đợi một đám cưới trong tương lai mà nó đã trở thành nơi cất giữ một cuộc tình mà hai người trong cuộc, dù có muốn đến đâu, cũng không thể thay đổi được gì.

Tôi chợt hiểu vì sao suốt mười năm qua mình không đủ can đảm trở lại. Tôi sợ phải nhìn lại những dấu tích xưa giờ đã bạc màu. Sợ nghe tiếng mưa rơi trên giàn trầu, sợ nghe tiếng gió vi vu lướt qua mấy hàng cau. Tôi sợ tất cả những thứ có thể khiến mình nhớ nghĩ đến nàng. Nhất là tôi sợ tình cờ gặp nàng lại quấy động một cuộc sống bình yên của ai đó.

6.

Hôm nay tôi đã thật sự trở về. Nhưng giữa lời hẹn ước và ngày trở về là một khoảng cách dài hơn tất cả những chặng đường đời tôi đã đi qua. Dù tôi trở về để viếng mồ mả ba mẹ nhưng vẫn cầu mong không gặp nàng ở đây để không phải đối diện với những điều khó nói. Tôi chỉ muốn một lần đứng giữa khu vườn xưa, nhìn lại những gì của một thời tuổi trẻ, để biết rằng những năm tháng ấy đã từng có thật.

Mưa đã tạnh. Tôi khép lại cánh cổng gỗ bước ra ngoài. Con đường làng vắng vẻ, mưa phủ một lớp sương mỏng lên những mái nhà xa xa. Tôi xếp chiếc dù đen, đứng nhìn về phía khu vườn lần cuối. Trong khoảnh khắc ấy, tôi tưởng như nghe thấy tiếng nàng gọi từ phía sau, “Anh ơi!” Tôi quay phắt lại. Không có ai, chỉ có những tàu lá trầu lay động trong gió, và tiếng nước từ con suối nhỏ vọng lên giữa không gian vắng lặng.

Tôi đứng im, lòng chợt nhói đau. Có lẽ đó chỉ là tiếng vọng của ký ức. Có lẽ trong suốt mười năm qua, tôi đã nhớ nàng nhiều đến mức ngay cả những âm thanh bình thường nhất cũng có thể biến thành giọng nói của nàng. Nhưng tôi không muốn xua đuổi cảm giác ấy. Tôi muốn tin rằng đâu đó trong khu vườn, nàng vẫn còn hiện diện, không phải bằng hình hài của một người đàn bà đã có chồng, mà bằng dáng vẻ của cô bé năm nào với nụ cười trong trẻo và đôi mắt luôn nhìn tôi bằng tất cả niềm tin.

Tôi vẫn hình dung nàng đang ngồi dưới giàn trầu, nhặt những chiếc lá sâu, thỉnh thoảng ngẩng lên trách tôi vì đã trêu nàng quá đáng. Rằng khi tôi bước đến đầu cầu khỉ, nàng vẫn sẽ đứng bên kia, chìa bàn tay nhỏ nhắn ra chờ tôi sang nắm lấy. Nhưng rồi tôi hiểu, những điều ấy chỉ có thể tồn tại trong ký ức của một người đã đi quá xa khỏi tuổi thanh xuân của mình.

Tôi quay đi, bước từng bước chậm, nghe tiếng chân mình lẫn trong tiếng xào xạc của cây lá chung quanh. Mỗi bước đi là một bước rời xa kỷ niệm. Tôi cố không quay đầu nhìn lại. Có những cuộc chia tay, dù đã xảy ra từ rất lâu, đến một ngày nào đó vẫn cần được thêm một lần đưa tiễn.

Kingwood, tháng 10/2026


« TRANG NHÀ