Phi Vụ Cuối Cùng – The final flight mission
ngày 2.09.26Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua.
Mỗi lần cầm trên tay tờ Phi Vụ Lệnh cuối cùng đã úa nhàu theo năm tháng, lòng tôi vẫn bồi hồi như mới hôm qua. Tờ giấy photocopy mỏng manh ấy được tôi ép plastic từ nhiều năm trước để lưu giữ như một kỷ vật. Thời gian đã làm nó ngả vàng, nhưng không thể làm phai mờ những ký ức mà nó mang theo.

Chỉ cần nhìn thấy tờ Phi Vụ Lệnh ấy, mọi chuyện của những ngày cuối tháng Tư năm 1975 lại hiện về nguyên vẹn. Khuôn mặt của những người bạn bay. Tiếng cười trong phòng hành quân. Tiếng động cơ quen thuộc của những chiếc Tinh Long giữa màn đêm. Rồi những mất mát, chia ly và đau đớn của ngày đất nước đổi thay.
Năm nào cũng vậy, cứ đến tháng Tư là ký ức lại trở về.
Đây không phải là một bài viết về chính trị. Cũng không nhằm phán xét bất cứ ai. Đây chỉ là câu chuyện của một người phi công may mắn còn sống để kể lại những gì mình đã chứng kiến trong những giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, như một lời tưởng nhớ đến những chiến hữu đã vĩnh viễn bay cao trên vùng trời miên viễn.
Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, tôi có tên trong Phi Vụ Lệnh của các phi vụ Tinh Long đêm đó. Những ngày ấy, chiến sự diễn biến từng giờ. Các tỉnh lần lượt thất thủ. Tin tức từ các mặt trận dồn dập báo về khiến ai cũng hiểu rằng, Sài Gòn đang đứng trước thời khắc sinh tử. Thế nhưng, đối với những người lính phi hành như chúng tôi, khi đã có tên trong Phi Vụ Lệnh thì mọi suy nghĩ khác đều phải gác lại. Việc duy nhất cần quan tâm là chuẩn bị cho phi vụ.
Phi đoàn Tinh Long sử dụng phi cơ AC-119K Stinger để yểm trợ hỏa lực cho quân bạn. Hằng đêm, chúng tôi có 6 phi vụ tác chiến và 2 phi vụ ứng chiến. Mỗi Phi Hành Đoàn có 10 người – 5 sĩ quan (Trưởng Phi Cơ, Hoa Tiêu phó, Điều hành viên, IR, NOS) và 5 hạ sĩ quan (Kỹ sư Phi hành, 3 xạ thủ, Áp tải/Trái sáng). Mỗi phi vụ bao vùng 2 tiếng – không kể thời gian cất cánh đến chiến trường và rời vùng trách nhiệm về đáp. Cứ thế hết phi vụ nầy đến phi vụ khác; hết ngày nầy đến ngày khác bắt đầu từ 6 giờ chiều cho đến 6 giờ sáng. Hai phi vụ ứng chiến chỉ bay khi chiến trường cần điều động.
Chiều hôm ấy cũng bắt đầu như bao buổi chiều khác. Nhân viên phi hành đến phi đoàn sớm để nhận Phi Vụ Lệnh. Đến giờ bay, xe quân xa đưa ra phi hành đoàn ra bãi đậu đủ sớm để làm công việc tiền phi cần thiết trước khi lên đường.
Mọi công việc diễn ra theo đúng quy trình quen thuộc đã lặp đi lặp lại suốt nhiều năm. Đâu có ai ngờ đó lại là Phi Vụ cuối cùng của đời quân ngũ. Không ai ngờ chỉ hơn hai mươi bốn giờ sau, mọi thứ sẽ vĩnh viễn đổi thay.
Đêm hôm ấy, chúng tôi – Tinh Long 02 – cất cánh làm nhiệm vụ như thường lệ. Nhưng tình hình dưới mặt đất đã hoàn toàn khác trước.
Hỏa lực phòng không của địch dày đặc hơn bao giờ hết. Tất cả đèn đóm bình thường bên ngoài của phi cơ đều tắt hết. 10 nhân viên phi hành đoàn ai cũng căng mắt canh chừng hỏa tiễn SA-7 và phòng không của đối phương. Mỗi lần chúng tôi cố nhập trận đều bị phòng không thắp sáng cả bầu trời đêm, và chúng tôi cứ phải lượn tránh. Có lúc chúng tôi chỉ còn biết vừa tránh hỏa tiễn, vừa cố giữ cao độ để tiếp tục làm nhiệm vụ yểm trợ quân bạn. Gần như suốt phi vụ, chúng tôi ở trong tư thế phòng thủ và tránh né hơn là tìm cơ hội phản kích.
Đó là lần đầu tiên trong đời bay tác chiến tôi cảm thấy bất lực. Cảm giác ấy giống như một võ sĩ bước lên võ đài nhưng hai tay đã bị trói chặt.
Không ai nói với ai một lời. Nhưng nhìn vào ánh mắt của đoàn viên phi hành đoàn, tôi biết ai cũng mang cùng một nỗi lo âu lẫn thất vọng. Nếu tình hình tiếp tục như thế này, Sài Gòn có lẽ chỉ còn được tính bằng từng giờ!
Phi vụ kết thúc vào sau 10g đêm ngày 28 tháng 4. Chiếc Tinh Long đưa chúng tôi trở về Tân Sơn Nhứt an toàn sau mấy tiếng đồng hồ căng thẳng. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi bước xuống chiếc AC-119K với tư cách một phi công tác chiến của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Sau khi hoàn tất các thủ tục sau chuyến bay, tôi trở về cư xá cũng đã gần 12g sáng. Hai chú em còn thức nói chuyện với người vợ mang bầu của thằng bạn vừa gửi buổi chiều trước khi đi bay. Thằng bạn đưa cô ấy vào được căn cứ buổi trưa, cùng lúc tôi mang chú em thứ bảy từ Bình Tuy chạy về Saigon. Cả đêm thức trắng, cả người rã rượi, mệt mỏi. Tôi chỉ mong tìm một góc để ngồi chợp mắt vài giờ trước khi trời sáng. Nhưng vừa lim dim chưa được bao lâu, những tiếng nổ dữ dội đây đó trong căn cứ càng lúc càng nhiều, làm cả khu cư xá rung chuyển.
Pháo kích!
Tôi bật dậy lao ra ngoài. Từng cột khói đen bốc lên từ nhiều hướng trong phi trường. Tiếng đạn nổ dồn dập hòa lẫn tiếng còi báo động và tiếng xe quân sự chạy ngược xuôi. Không cần ai giải thích, tôi cũng biết Tân Sơn Nhứt đang bị địch tấn công dữ dội.
Trở vào phòng thì thấy hai chú em và cô gái mang bầu đang chen nhau chui dưới gầm giường tránh pháo. Tôi đứng ngồi không yên giữa những tràng pháo kích dội liên hồi quanh căn cứ. Bỗng nghe một tiếng rít thật lớn, xé toạc cả màng nhĩ sát bên ngoài cư xá rồi im bặt. Hú hồn!
Trời vừa hừng sáng, bên ngoài bỗng vang lên những tiếng la thất thanh. Tôi chạy vội ra. Mọi người đang chỉ tay lên bầu trời phía đông bắc. Một chiếc Tinh Long vừa bị hỏa tiễn SA-7 bắn trúng động cơ bên trái. Chiếc phi cơ xoay nghiêng, mất kiểm soát rồi cắm thẳng xuống đất!
Tim tôi thắt lại, đau nhói.
Tôi vội trở vào phòng, trấn an hai chú em và người đàn bà, rồi nhảy lên chiếc Lambrettite chạy thẳng vào Phi đoàn 821 để biết chiếc nào vừa bị bắn hạ và những ai đang có mặt trên đó.
Vừa định chạy đi, tôi chợt nhìn sang doanh trại huấn luyện tân binh bên kia đường, đối diện khu cư xá. Cả doanh trại vắng tanh, súng đạn nằm vương vãi khắp nơi như vừa bị bỏ lại trong cơn hỗn loạn. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu. Tôi ghé vào nhặt vài khẩu súng cá nhân cùng một mớ đạn dược mang về phòng, cẩn thận chỉ cho hai chú em cách sử dụng trong trường hợp bất trắc, rồi lập tức lên xe phóng đi.
Dọc đường, khung cảnh hỗn loạn hiện ra trước mắt. Xe cộ chen chúc. Quân nhân và gia đình hối hả tìm đường thoát khỏi căn cứ. Người đổ ra hướng cổng Phi. Long và Huỳnh Hữu Bạc đông hơn số người chạy ngược vào. Chạy ngang qua khu cư xá của nữ quân nhân, thật là một cảnh hỗn loạn – nào xe cứu thương, nào cảnh đổ nát, người người nhốn nháo.
Khi đến Phi đoàn 821, vài chiến hữu đang tụm nhau bàn tán. Hỏi ra mới biết chiếc vừa bị bắn hạ là Tinh Long 07, đang trực chiến. Lúc ấy, tôi chỉ biết trưởng phi cơ là Trung Uý Trang Văn Thành và co-pilot Tào Thuận. Trang Văn Thành đã bay Tinh Long 01 đêm qua, vì nhà xa nên ngủ lại chờ sáng. Trong Phi Vụ Lệnh, trực chiến Tinh Long 07 là ông Phi Đoàn Trưởng nhưng không biết vì lý do gì Trang Văn Thành lại bay thế và gồm những ai.
Xin mở ngoặc nói thêm về Trung Uý Trang Văn Thành.
Thành rất gan dạ trong tất cả các phi vụ tác chiến, dù ở chiến trường hung hiểm nào, vùng nào. Hắn đeo nanh heo, bảo với anh em rằng hắn có bùa Miên nên đạn không bắn trúng được. Trong những phi vụ “nóng” thường bị vắng mặt một số đoàn viên, phải tìm người thay ở phút cuối. Thành là nỗi khiếp đảm cho địch quân trên chiến trường, từ miền Nam cho đến tận miền Trung Việt Nam. Tôi không ngại đi bay với Thành chỉ vì muốn xem cái gan của mình chịu đựng tới đâu.
Đóng ngoặc.
Tôi đau đớn đứng lặng người một lúc khá lâu rồi lặng lẽ quay xe trở lại cư xá.
Trên đường về, đầu óc tôi hoang mang tột độ. Chợt nghĩ tới những khó khăn mọi mặt trong thời gian tới. Tôi ghé qua khu gia binh, tới quán của Trung sĩ Ngọn – một đoàn viên vừa bay cùng tôi trong phi vụ đêm trước – mua ít gạo và vài chai nước mắm. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ là sẽ phải cố thủ trong căn cứ.
Đường về cư xá càng lúc càng hỗn loạn. Dòng người vẫn không ngừng đổ về phía hai cổng chính của căn cứ. Khung cảnh ấy báo cho tôi biết cuộc chiến đã bước vào những giờ phút cuối cùng. Chiến tranh đã tràn vào tận Sài Gòn, tràn vào ngay trung tâm đầu não của Bộ Tư lệnh Không Quân Miền Nam.
Về đến phòng, tôi chợt nhìn thấy ngay bên hông cư xá một phần đuôi của quả hỏa tiễn, trong trận pháo kích đêm qua, cắm sâu xuống đất mà không phát nổ. Tôi rùng mình. Nếu nó nổ đêm qua, có lẽ anh em chúng tôi và nhiều chiến hữu quanh đây đã không còn ai sống sót.
Tôi nhìn quanh một lượt. Trong đầu nổi lên quyết định dứt khoát, phải rời khỏi căn cứ bằng mọi giá. Tôi bước nhanh vào phòng, người đàn bà mang bầu của bạn đã không còn ở đó; giục hai chú em lên xe rồi chạy thẳng ra bãi đậu phi cơ, hy vọng vẫn còn một cơ hội để thoát khỏi Tân Sơn Nhứt.
Chạy khắp các bãi đậu phi cơ các loại phi cơ, cầu mong gặp được chiếc nào đang chuẩn bị ra đi. Thế nhưng, tất cả đều vắng lặng, ngoại trừ tiếng pháo kích của địch quân vẫn lác đác vang vọng. Chạy về phía bãi đậu phi cơ AC-119K, gặp một chú phi đạo quen, chú nói chú biết chỗ những chiếc khả dụng. Chú còn dặn dò, tìm được cho hắn theo với. Dĩ nhiên rồi.
Tôi chạy theo chú một lúc khá lâu. Những chiếc khả dụng đã không còn. Nỗi thất vọng tràn ngập. Chợt thấy một chiếc Tinh Long còn trong ụ, gần trạm tiếp liên Không Quân. Tôi vụt chạy đến, bảo hai chú em ngồi trên xe, tôi nhảy lên cánh xem hai bình xăng. Thấy xăng đầy. Vào phòng lái quay thử máy. Máy hoạt động tốt, chỉ một số phi cụ bị hỏng. Tôi quyết định liều mạng.
Thế nhưng nhìn quanh không thấy hai chú em. Tôi tắt máy, ra khỏi phi cơ tìm quanh vẫn không thấy. Bỗng nhiên thấy vài chiến hữu pilot của phi đoàn, ở đâu không biết, nhảy lên phi cơ, nổ máy, taxi ra khỏi ụ. Tôi không thể đi theo vì vẫn không thấy bóng dáng hai chú em. Tôi cố ra hiệu cho họ chờ tôi nhưng họ vẫn tiếp tục chạy đi về phía phi đạo. Tôi đứng sững nhìn chiếc Tinh Long từ từ mất hút tầm mắt. Lòng nặng trĩu vì giận họ, giận cả hai chú em và lo lắng, hoang mang cực độ.
Nhiều năm sau, mỗi lần nhớ lại chuyện ấy, tôi không còn giận các chiến hữu của mình như trước nữa. Tôi hiểu rằng trong hoàn cảnh sinh tử lúc bấy giờ, ai cũng có thể làm những điều mà trong cuộc sống bình thường, lương tâm mình không bao giờ cho phép.
Đang lúc chưa biết hành xử ra sao thì thấy hai chủ em chạy lại. Lòng mừng rỡ nhưng quạu quá. Hai chú cho biết là muốn chạy về Bình Tuy tìm gia đình nhưng ngoài cổng vô cùng rối loạn. Quân Cảnh không cho ai ra vào. Dùng súng bắn chỉ thiên, bắn luôn xuống đất xua đuổi mọi người không cho ra vào.
Điều đó có nghĩa là con đường bộ duy nhất còn lại để rời khỏi căn cứ cũng đã bị cắt đứt. Trong lúc đó, tâm trí tôi cứ văng vẳng những lời cha mẹ đã dạy từ thuở bé, “Cộng sản là những kẻ vô cảm. Chúng là hiện thân của sự lừa lọc, dối trá, lòng thù hận và sự giết chóc.” Tôi cứ tự nhủ trong lòng, “Bằng mọi giá, chúng tôi phải thoát khỏi nơi này.” Dù tôi vẫn chưa biết bằng cách nào.
Ba Mẹ tôi lúc này ở đâu? Các anh chị em tôi bây giờ ra sao? Gần hai năm rồi tôi chưa có dịp về thăm nhà. Hơn hai tháng qua, mọi liên lạc đều bị cắt đứt cho tới khi chú em thứ bảy về đến Saigon mới nói cho tôi biết cả gia đình tản cư đi nhiều nơi nhưng vẫn được an toàn khi chú rời đi. Nhưng trong giờ phút ấy, tôi vẫn rất lo lắng cho số phận của gia đình, không biết họ ở đâu, có an toàn hay không. Tôi chỉ còn biết rằng, lúc này chỉ còn ba anh em, dù chuyện gì xảy ra… ba anh em cũng phải sống chết có nhau.
Đột nhiên nghe tiếng hét lớn, “Thuận! Thuận! Chạy theo đi với anh! Anh cần co-pilot!”
Tôi quay phắt lại. Một chiếc xe pickup màu xanh của Không Quân vừa vượt lên. Ngồi sau tay lái là Thiếu tá Phan Vũ Điện. Trên thùng xe còn có một số người, gồm anh em cơ phi và áp tải, đang vẫy tay gọi chúng tôi.
Trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như người sắp chết đuối bỗng nhìn thấy một chiếc phao. Không suy nghĩ gì thêm. Tôi lập tức quay xe, bảo hai chú em bám thật chặt rồi phóng theo chiếc pickup đang lao vun vút về phía đông bắc phi trường, gần khu hàng không dân sự.
Đến bên chiếc C-130, đã thấy một số người lố nhố chen nhau lên máy bay. Tôi đưa hai chú em lên cửa trước bên hông của phi cơ, tìm một góc trống bảo ngồi yên, rồi vội bước lên phòng lái. Không ai nói với ai một lời. Cùng nhảy vội lên máy bay, ai lo việc nấy.
Anh Điện đã bắt đầu khởi động máy. Tôi cầm vội cuốn checklist, lướt thật nhanh từng hạng mục để phụ anh hoàn tất các thủ tục cần thiết trong lúc chiếc C-130 bắt đầu lăn bánh ra khỏi ụ đậu. Áp tải Hoàng thông báo vẫn chưa đóng được cửa ramp vì còn nhiều người đang cố leo lên. Anh Điện ra lệnh đóng cửa vì sợ quá tải trong hoàn cảnh chiếc máy bay không hoàn hảo. Anh Điện nói như phân trần, “Đành lòng thôi!” Nhưng trong intercom, Áp tải Hoàng báo người lên đông quá, chưa đóng cửa được. Anh Điện hỏi trên phi cơ đã có bao nhiêu người tất cả. Hoàng nói đã đếm được tổng cộng 115 onboard. Anh ra lệnh phải đóng cửa ngay vì sắp ra tới đường băng cất cánh.
Chiếc Hercules tăng tốc lao về phía trước. Tôi nhìn nhanh các đồng hồ động cơ rồi đưa mắt nhìn ra ngoài. Không còn thì giờ để suy nghĩ gì thêm. Mọi hy vọng của hơn một trăm con người trên chiếc máy bay lúc ấy đều đặt vào bốn động cơ đang gầm lên phía trước.
Chúng tôi nhập vào phi đạo ngay tại taxiway gần nhất, chỉ khoảng nửa chiều dài đường băng, thay vì tới đầu phi đạo như quy trình thông thường. Điều đó có nghĩa là chúng tôi phải cất cánh với quãng đường ngắn hơn rất nhiều.
Anh Điện đẩy bốn cần ga lên tối đa. Tiếng động cơ gầm lên dữ dội. Chiếc C-130 rung chuyển rồi lao đi như một con thú khổng lồ đang dốc hết sức để thoát khỏi mặt đất. Tôi phụ giữ chặt cần lái, cùng anh Điện giữ cho chiếc phi cơ ổn định.
Trên đường băng, nhiều chỗ hư hại, vật dụng nằm vương vãi sau trận pháo kích. Anh Điện vừa điều khiển máy bay tăng tốc, vừa phải lạng tránh những chướng ngại vật ngay trước mũi phi cơ. Tốc độ vẫn chưa đạt mức cất cánh như bình thường. Cuối đường băng đã đến rất gần.
Chiếc C-130 vẫn tiếp tục lao về phía trước. Tôi liếc nhanh đồng hồ tốc độ. Vẫn chưa đủ. Trong buồng lái, không ai nói một lời. Thoáng nhìn sắc mặt của những sĩ quan có mặt, tôi biết ai cũng đang nghĩ đến cùng một điều. Nếu không nhấc được con tàu lên trước cuối phi đạo… Mọi chuyện sẽ chấm hết.
Anh Điện vẫn bình tĩnh một cách lạ thường. Hai tay anh giữ chặt cần lái, mắt không rời đường băng phía trước. Đúng vào những giây cuối cùng, anh nhẹ nhàng kéo cần. Chiếc Hercules như miễn cưỡng rời khỏi mặt đất, thân tàu rung lên dữ dội. Đó không phải là cảm giác của một cú cất cánh bình thường. Chiếc máy bay quá nặng, lại chưa đạt đủ tốc độ an toàn. Một ý nghĩ thoáng trong đầu làm tôi tê điếng… không biết sẽ có ai tìm xác rơi!
Tôi đảo mắt liên tục giữa đồng hồ tốc độ, cao độ, tốc độ lên cao và tình trạng bốn động cơ, bầu trời phía trước mặt… Chiếc phi cơ chỉ có thể từ từ lấy cao độ, hoàn toàn không thể ngóc đầu lên nhanh như bình thường. Đã vậy còn phải quẹo trái ngay về hướng Vũng Tàu, tránh Trường Đua Phú Thọ, nơi được báo có hỏa lực phòng không của địch quân.
Và đó là những giây phút hồi hộp và cận kề sinh tử nhất, không khác những lần nhập trận trong đời. Chiếc Hercules vẫn rung bần bật. Từng giây trôi qua như dài vô tận. Rồi dần dần… kim đồng hồ tốc độ bắt đầu nhích lên. Tiếng động cơ trở nên đều hơn. Những rung động dữ dội cũng từ từ dịu xuống.
Anh Điện nhìn sang tôi. Không ai nói với ai một lời nhưng cả hai đều hiểu, chúng tôi vừa vượt qua cửa tử. Chiếc Hercules bắt đầu lấy được cao độ an toàn hướng về phía Vũng Tàu, bỏ lại phía sau lưng chúng tôi là một Tân Sơn Nhứt, một Sài Gòn trong mịt mù khói lửa của một ngày tháng Tư định mệnh.
Nhìn đồng hồ tay, đã hơn một giờ chiều. Trong buồng lái, không khí vẫn căng như dây đàn. Không ai dám nghĩ rằng mình đã thật sự thoát hiểm. Anh Điện vẫn bay, rất muốn đáp Côn Sơn vì vợ con của anh ấy đã được đưa đi trước ra đó từ sáng sớm. Phần tôi tiếp tục giữ liên lạc với nhiều tần số khác nhau để quyết định cho phi trình.
Trên tần số không lưu bỏ ngõ vang lên đủ mọi tiếng gọi, tiếng hướng dẫn và những cuộc trao đổi chồng chéo. Từ các phi cơ khác, từ các trạm kiểm soát, rồi cả những ý kiến khác nhau của các sĩ quan cao cấp đang có mặt trong buồng lái. Người muốn bay thẳng sang Bangkok xin tỵ nạn. Có người đề nghị đến Utapao, Thái Lan. Trong lúc mọi người còn tranh luận, Thiếu tá Phan Vũ Điện vẫn chăm chú điều khiển chiếc Hercules. Cuối cùng, anh không nén được nữa, quay sang lớn tiếng, “Xin mọi người im lặng, tôi là người quyết định sẽ đáp ở đâu!”
Trong những liên lạc, đài kiểm soát Côn Sơn và Phú Quốc cho biết không có chỗ đáp. Không an toàn vì tù đang sổng chuồng, quậy quá lung tung. Nghe thế, anh Điện buông tay lái ôm mặt khóc, gọi tên vợ con. Tôi cầm lái và giữ liên lạc vô tuyến được một lúc. Khi anh Điện bình tỉnh lại, anh điều khiển phi cơ và tỏ ý muốn đáp xuống biển (ditching) để Hạm Đội 7 của Hoa Kỳ cứu vớt. Nhưng mọi người phản đối quyết liệt vì tàu đang mang theo hơn một trăm nhân mạng, sẽ có rất nhiều người không thể sống sót.
Trên tần số nhiều chiến hữu phi cơ khác kêu gọi nhau trực chỉ căn cứ Không Quân Utapao. Sau vài phút trao đổi, mọi người cuối cùng cũng đi đến một quyết định chung… đi Utapao.
Chiếc Hercules từ từ đổi hướng. Không còn ai nói gì thêm. Mỗi người lặng lẽ theo đuổi những suy nghĩ riêng. Tôi ngồi yên trong ghế hoa tiêu phụ, mắt vẫn dõi theo các đồng hồ phi cụ. Ngoài khung cửa kính, Biển Đông trải dài bất tận dưới cánh. Phía trước là một chân trời hoàn toàn xa lạ. Không ai biết điều gì sẽ xảy ra phía trước.
Sau hơn hai giờ bay, từ Tân Sơn Nhứt vòng qua Vũng Tàu rồi hướng về Utapao, Thái Lan, chiếc Hercules bắt đầu giảm cao độ để vào đáp xuống căn cứ Không Quân Utapao.
Đồng hồ chỉ hơn ba giờ chiều. Đó là ngày 29 tháng 4 năm 1975.
Khi bánh máy bay vừa chạm xuống đường băng, cả thân tàu rung lên theo tiếng thắng hãm. Không ai bảo ai, gần như mọi người cùng lúc thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi đã sống.
Chiếc Hercules tiếp tục lăn bánh vào khu đậu. Động cơ lần lượt tắt. Trong khoảnh khắc hiếm hoi ấy, cả phi hành đoàn và hơn một trăm người trên máy bay gần như im lặng. Sau những giờ phút căng thẳng tưởng chừng không thể vượt qua, ai cũng cần vài giây để tin rằng mình vẫn còn hiện diện trên cõi đời.
Khi cánh cửa vừa mở, một toán quân nhân Hoa Kỳ đã nhanh chóng bước lên máy bay. Họ làm việc rất chuyên nghiệp, thu gom, tước đoạt tất cả vũ khí trước khi mọi người được hướng dẫn xuống máy bay. Không có một lời giải thích. Không một phản ứng. Hơn một trăm con người lặng lẽ nối đuôi nhau bước xuống chiếc Hercules đi vào trạm.
Tôi bước những bước chậm cuối cùng rời khỏi chiếc máy bay. Vừa đặt chân xuống mặt đất, tôi quay lại nhìn chiếc Hercules đã đưa chúng tôi vượt qua cửa tử. Đó là lần cuối cùng tôi đứng cạnh một chiếc phi cơ quân sự của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa.
Một toán quân nhân Hoa Kỳ khác mang thang đến. Họ nhanh nhẹn xịt sơn phủ lên lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên thân máy bay rồi tháo luôn số hiệu của con tàu. Tôi lặng lẽ đứng nhìn. Không ai nói một lời. Trong lòng tôi quặn thắt như muốn khóc. Đến lúc ấy, tôi mới chợt hiểu rằng một chương đời vừa khép lại. Tôi không khóc. Nhưng từ giây phút ấy, lòng tôi ngập tràn hoang mang. Tôi không biết rồi mình có còn cơ hội để trở về với gia đình, với Tổ quốc hay không.
Chúng tôi lặng lẽ theo người lính Mỹ đi về khu tập trung dành cho người tỵ nạn. Con đường không dài. Nhưng đối với tôi, đó là quãng đường dài nhất trong cuộc đời. Mỗi bước chân đưa tôi rời xa quê hương thêm một chút. Không ai còn tâm trạng để trò chuyện. Thỉnh thoảng chỉ có vài tiếng trẻ con khóc vì mệt và khát nước. Những người lớn lặng lẽ bước đi, mỗi người mang theo một nỗi niềm riêng. Có người vừa đi vừa ngoái đầu nhìn về phía phi trường. Có người ôm chặt chiếc túi nhỏ như sợ đánh mất tất cả những gì còn lại của cuộc đời mình. Ba anh em chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau. Không ai nói một lời. Chỉ cần còn nhìn thấy nhau trong dòng người ấy cũng đã là một niềm an ủi.
Đến khu tập trung, binh sĩ Hoa Kỳ phát nước uống và một ít thực phẩm. Từ sáng đến giờ, giữa những biến cố dồn dập, tôi gần như quên mất mình chưa ăn uống gì suốt mấy canh giờ. Cầm chai nước trên tay, tôi uống từng ngụm nhỏ. Lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng, tôi mới cảm thấy mình thật sự kiệt sức. Tôi ngồi bệt xuống nền xi măng, tựa lưng vào một vách tường. Đưa mắt nhìn quanh. Hàng trăm khuôn mặt. Hàng trăm số phận.
Có những người vừa mới sáng nay còn là sĩ quan, phi công, công chức, hay những người mẹ bình thường đang sống trong căn cứ. Chỉ trong vài giờ ngắn ngủi… Tất cả đều trở thành những người tỵ nạn trên một quốc gia láng giềng. Không ai biết ngày mai sẽ đi đâu. Không ai biết tương lai sẽ ra sao.
Tôi ngẩng nhìn bầu trời Utapao trong xanh. Bình yên. Hoàn toàn trái ngược với bầu trời đầy khói lửa mà chúng tôi vừa rời khỏi. Nhìn hai chú em chợt quặn lòng nghĩ đến cha mẹ và anh chị em, không biết bây giờ họ đang ở đâu, sống chết ra sao! Dù vậy, tôi vẫn tin rằng rồi chiến sự sẽ lắng xuống. Rồi sẽ có ngày mình được trở về đoàn tụ với cha mẹ anh em.
Nhưng tôi đâu ngờ… Chuyến bay trên chiếc Hercules trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975 không chỉ đưa tôi rời khỏi Tân Sơn Nhứt mà nó đã đưa tôi đi xa Tổ quốc hơn nửa vùng trời, hơn nửa thế kỷ.
The final flight mission
More than half a century has passed.
And yet, whenever I hold in my hands that last Mission Order, now faded and worn by the years, something inside me still stirs as though yesterday had never ended. I had the fragile photocopy laminated many years ago and kept it as a keepsake. Time has yellowed the paper, softened its edges, and left its marks upon it. But it has not erased the memories held within.
I need only look at that Mission Order, and the final days of April 1975 come rushing back with startling clarity. The faces of my fellow airmen. The laughter in the operations room. The familiar growl of the Tinh Long aircraft cutting through the darkness. And then… the losses, the farewells, the sorrow of a nation passing through the most fateful hour of its history. Every year, when April comes, the horrible memories return.
This is not a political essay. Nor is it an attempt to judge anyone. It is simply the account of a pilot who was fortunate enough to survive and bear witness to what he saw during the final hours of the Republic of Vietnam. And perhaps, more than anything else, it is my quiet remembrance of the comrades who never came home – those who took their final flight and disappeared forever into the boundless sky.
On the afternoon of April 28, 1975, my name appeared on the Mission Order – Tinh Long 04 -for that night’s Tinh Long missions.
Those were days when the war seemed to change by the hour. Province after province was falling. Reports from the various fronts came in one after another, leaving little doubt that Saigon was approaching the hour of life and death. But for airmen like us, once your name appeared on the Mission Order, there was no room for anything else. Whatever was happening beyond the flight line, whatever fear might have been gathering outside, had to be pushed aside. There was only one thing left to do was prepared for the mission.
The Tinh Long Squadron operated the AC-119K Stinger, providing aerial fire support for friendly ground forces. Each night we had six combat missions and two standby missions. Each flight crew consisted of ten men—five officers: the Aircraft Commander, Co-Pilot, Flight Engineer/Operator, IR, and NOS; and five enlisted men: the Flight Engineer, three gunners, and the Loadmaster/Flare Operator.
Each mission covered its assigned area for two hours, not counting the time required to reach the battlefield and return from the area of responsibility. And so the nights went. One mission after another. One night following another from six in the evening until six the next morning. The two standby crews would took to the air only when the battlefield called for them.
That afternoon began like countless afternoons before it. The aircrews arrived early at the squadron to receive their Mission Orders. When the time came, military trucks carried us out to the flight line early enough for the necessary preflight preparations before departure. Everything followed the same familiar routine; a routine repeated so many times over so many years that it had become almost instinctive. No one could have imagined that this would be the final mission of our military careers. No one knew that in little more than twenty-four hours, everything we had known would be changed forever.
That night, we took off as usual. But the world beneath us was no longer the same. The enemy’s anti-aircraft fire was heavier than anything we had encountered before. Every ordinary exterior light on the aircraft was switched off. All ten members of the crew strained their eyes into the darkness, watching for SA-7 missiles and enemy anti-aircraft fire.
Every time we attempted to enter the battle area, the enemy defenses seemed to set the entire night sky ablaze. We had to circle. We had to evade. At times, all we could do was dodge missiles while struggling to maintain our altitude and hoped to continue providing support to the troops below.
For nearly the entire mission, we were fighting a defensive battle, kept trying to find an opportunity to strike back, trying to remain alive long enough to complete our duty. For the first time in my combat-flying career, I felt helpless. Completely helpless. The feeling was like that of a fighter stepping into a ring with both hands already bound behind his back.
No one said a word. But I looked into the faces of the men around me and knew that we were all carrying the same mixture of anxiety and disappointment. If things continued like this, Saigon might have only hours left.
The mission ended sometime after ten o’clock that night, April 28. The Tinh Long brought us safely back to Tan Son Nhut after several tense hours in the air. None of us could have imagined that this would also be the last time I would ever step down from an AC-119K as a combat pilot of the Republic of Vietnam Air Force.
After completing the post-flight procedures, I returned to the residential compound close to midnight. My two younger brothers were still awake, talking with the pregnant wife of a friend who had left her in our care the previous afternoon before heading out on his own mission. He had managed to bring her onto the base around noon, at about the same time I brought my seventh younger brother, who just made it to Saigon from Binh Tuy.
I had been awake all night, and by then my whole body felt drained and heavy with exhaustion. All I wanted was to find a corner where I could close my eyes for a few hours before dawn.
But I had barely begun to doze when violent explosions started erupting here and there across the base, growing more frequent by the minute until the entire residential compound seemed to tremble.
Artillery!
I sprang to my feet and rushed outside. Columns of black smoke were rising from different parts of the Air Base. The rapid thunder of exploding shells mingled with warning sirens and the frantic movement of military vehicles racing back and forth. No one needed to explain what was happening. I knew that Tan Son Nhut was under a fierce enemy attack.
I hurried back into the room and found my two brothers and the pregnant woman huddled together beneath the bed, seeking shelter from the shelling. I could neither sit nor stand still as the artillery continued to pound the base in relentless waves.
Then, suddenly, a tremendous shriek tore through the air just outside my residential unit, so close that it seemed to split my eardrums. And then… totally went silence.
What a fright!
The explosions kept coming. The whole base seemed to tremble beneath them.
At first light, sudden cries rang out from outside. I ran out. People were pointing toward the northeastern sky. A Tinh Long had just been struck by an SA-7 missile in its left engine. The aircraft rolled violently to one side, lost control, and plunged toward the ground.
My heart tightened with a pain I can still feel.
I hurried back inside, reassured my two brothers and the woman, then jumped onto my Lambrettite and headed straight for the 821st Squadron to find out which Tinh Long had gone down and who had been aboard.
Just as I was about to leave, I happened to see across the road at the recruit-training barracks opposite our residential compound. The entire barracks was deserted. Weapons and ammunition lay scattered everywhere, as though the men had simply vanished in the middle of the chaos.
An idea flashed through my mind. I stopped and picked up several personal weapons and a quantity of ammunition and carried them back to the room. I carefully showed my two brothers how to use them should the need arise. Then I climbed back onto the Lambrettite and left.
The scene along the road was one of utter confusion. Vehicles jammed the way. Soldiers and their families hurried desperately in search of some way out of the base. The flow of people toward the Phi Long and Huynh Huu Bac gates was far greater than the number moving in the opposite direction. When I passed by the women’s military housing area, I saw chaos everywhere – ambulances, wreckage, frightened people running in every direction.
At the 821st Squadron, few comrades were gathered together, talking among themselves. I asked what had happened. The aircraft that had just been shot down was Tinh Long 07, which had been on standby alert.
At the time, the only members of the crew I knew were the Aircraft Commander was Lieutenant Trang Văn Thành, and the co-pilot, Lt. Tào Thuận. Trang Văn Thành had flown Tinh Long 01 the previous night. Because his home was far away, he had remained at squardron’s quarter until morning.
According to the Mission Order, Tinh Long 07 was supposed to be flown by the Squadron Commander. I did not know why Trang Văn Thành had taken the mission in his place. Nor did I know who else had been aboard.
Let me pause here for a moment and say something about First Lieutenant Trang Văn Thành.
Thành was fearless on every combat mission, regardless of how dangerous the battlefield or where it lay. He wore a boar’s tooth around his neck and used to tell us that he carried a Khmer talisman that made him immune to bullets. On the hottest missions, some crew members would sometimes be absent, forcing the squadron to find replacements at the last minute.
Thành was a terror to the enemy on fire-support missions, from the battlefields of southern all the way to the Central region of Việt Nam. I never hesitated to fly with Thành. Part of me simply wanted to find out how much courage I really had.
End of aside.
I stood there in silence for a long while, overcome with grief. Then I quietly jumped on the Lambrettite headed back to the residential compound. On the way home, my mind was in turmoil. I began thinking about all the difficulties that lay ahead.
I stopped at the military-family housing area and went to the small shop run by Sergeant Ngọn, the crewman who had flown with me the previous night. I bought some rice and a few bottles of fish sauce. There was only one thought in my mind, “We would have to hold out inside the base.”
The road back to the compound grew more chaotic by the minute. People continued streaming toward the two main gates. Looking at them, I understood that the war had entered its final hours. The war had reached Saigon itself. It had reached the very heart of the headquarters of the Air Force Command in the South.
When I returned to the room, I noticed something beside the residential compound that made me stop. Part of the tail section of an 122″ missile lay buried deep in the ground. It had fallen during the previous night’s bombardment but had failed to explode. A chill ran through me. Had it detonated during the night, my brothers and I, and many comrades living nearby might not have survived.
I looked around. And suddenly, my decision was made. We had to leave the base at any cost. I hurried into the room. The pregnant wife of my friend was gone. I urged my two brothers onto the Lambrettite and headed straight for the aircraft parking garages areas. Perhaps there was still one last chance to escape Tan Son Nhut.
I raced through the aircrafts parking garages praying that I might find one still preparing to leave. But everywhere was deserted. Only the occasional boom of enemy artillery broke the silence.
I headed toward the AC-119K garages and came across a familiar man from our flight line. He told me he knew where some operational aircraft might still be found. Then he asked me to take him along if I found one. Of course. I would.
I followed him for quite some distance. But the usable aircraft were gone. The disappointment was overwhelming. Then, suddenly, I saw it. A Tinh Long was still sitting inside a revetment near the Air Force communications station.
I ran toward it, told my two brothers to stay with the Lambrettite while I climbed onto the wing to inspect the two fuel tanks. They were full. Climbed back into the cockpit and started the engines. They started. The engines were working well except a few instruments were inoperative. However, I made my decision. I would take the chance.
But when I looked around, my two brothers were gone. I shut down the engines and climbed off the aircraft to searched for them but saw nowhere. Then, suddenly, several pilot comrades from the squadron appeared from nowhere, jumped into the aircraft. They started the engines and hastily taxied out of its parking. I could not board with them since my brothers were still missing. I waved desperately for them to wait but they kept moving toward the runway. I stood there, frozen, watching the Tinh Long quickly disappear into the distance.
My heart was heavy with anger toward them, anger toward my brothers. My mind went completely numb.
Years later, whenever I remember that moment, I no longer feel the same anger toward my comrades. I understand now that when life and death are hanging by a thread, people may do things that, under ordinary circumstances, their own consciences would never permit.
I was still standing there, not knowing what to do, when I suddenly saw my two brothers running back toward me. Relief washed over me, followed immediately by anger. They explained that they had tried to go back to Binh Tuy to find the families, but at the gates everything was in chaos. The Military Police were allowing no one in or out. They fired into the air. Then they fired into the ground. Anyone who tried to pass was driven back.
That meant, the only remaining road out of the base had been cut off. There was no way out by land. And yet, in my mind, I kept hearing the words our parents had taught us since childhood, “Communists are people without hearts. They are the embodiment of deception, lies, hatred, revenge, and killing.” I kept telling myself, “We have to get out of here. Whatever it takes.” Even I had no idea how.
Where were my parents now? What had become of my brothers and sisters? It had been nearly two years since I had last had the chance to return home. For more than two months, all communication had been cut off, until my seventh younger brother finally reached Saigon and told me that the family had scattered to different places, but that everyone was still safe when he left.
Yet, in that moment, I could not help worrying about their fate. Where were they now? Were they safe? I had no way of knowing. All I knew was that, at that moment, there were only the three of us, whatever might happen… we would live or die together.
Suddenly, a voice rang out behind me. “Thuan! Thuan! Come with me! I need a co-pilot!”
I spun around. A blue Air Force pickup had just pulled up and passed by. Behind the wheel was Major Phan Vũ Điện. In the back were several people included flight mechanic and loadmaster, they were waving frantically for us to follow.
In that instant, I felt like a drowning man who had suddenly seen a lifeline. I did not think. I turned the Lambrettite around, told my brothers to hold on tightly, and sped after the pickup as it raced toward the northeastern end of the airfield, near the civilian aviation area.
When we reached the C-130, a number of people were already scrambling aboard, jostling and squeezing their way inside. I led my two younger brothers to the forward side door, found them an empty corner, and told them to stay there. Then I hurried up into the cockpit.
No one said a word to anyone else. We simply scrambled aboard and went about whatever needed to be done.
Major Điện had already begun starting the engines. I grabbed the checklist and ran through it as quickly as I could, helping him complete the necessary procedures while the C-130 began moving out of its parking position.
From the rear came the voice of Loadmaster Hoang, “The ramp door could not yet be closed. Too many people were still trying to climb aboard.” Major Điện ordered the door closed, afraid the aircraft dangerously overloaded, and its condition was far from ideal. He spoke as if offering an explanation, “We have no choice,” he said. But Hoang called again over the intercom.
“There were still too many people. The ramp could not be closed.”
Major Điện asked how many people were aboard. Hoang replied that he had counted 115.
“Close it now,” Major Điện ordered. We were almost at the runway.”
The Hercules began to accelerate. I glanced at the engine instruments, then looked outside. There was no time left to think about anything else. The fate of more than one hundred people aboard that aircraft now rested on four engines roaring at full power.
We entered the runway from the nearest taxiway, roughly halfway down its length, instead of taxiing all the way to the normal runway threshold. That left us with a dangerously short distance for takeoff. Major Điện pushed all four throttles to maximum power. The engines roared. The entire aircraft shuddered.
Then the C-130 surged forward like some enormous beast throwing every ounce of its strength into breaking free from the earth. I helped hold the controls, working with Major Điện to keep the aircraft steady. The runway was damaged in several places. Debris and equipment lay scattered across it from the artillery bombardment.
Major Điện continued accelerating while swerving around obstacles appearing directly in our path. The airspeed was still below what we would normally require for takeoff. And the end of the runway was coming fast while the Hercules kept charging forward.
I glanced at the airspeed indicator. Still not enough. Everyone was in the cockpit hold their breaths. I looked briefly at the faces of people around me… looked like everyone was thinking the same thing. If the aircraft did not leave the ground before the runway ended… it would all be over.
Major Điện remained strangely calm. His hands were firm on the controls. His eyes never left the runway. Then, in those final seconds, he gently pulled back. The Hercules seemed almost reluctant to surrender itself to the air. The fuselage shook violently. This was not a normal takeoff. The aircraft was too heavy. We had not reached a safe airspeed. And one thought flashed through my mind with terrifying clarity, “Will someone ever find the wreckage.”
My eyes moved rapidly between the airspeed indicator, altitude, rate of climb, the four engines, and the sky ahead. The aircraft could only climb gradually. It simply would not rise as quickly as a normal takeoff required. And we had to turn left almost immediately toward Vũng Tàu, avoiding the Phu Tho Racecourse, where we had been warned enemy anti-aircraft fire was present.
Those were among the most terrifying seconds of my flying life. They felt no different from entering a battle. The Hercules continued to tremble violently. Every second seemed to stretch into eternity. Then, little by little… the airspeed needle began to climb. The engines settled into a steadier roar. The violent shaking began to ease. Major Điện looked at me. Neither of us spoke. We both breathed a sigh of relief. We had just passed through the gates of death.
The Hercules began to gain safe altitude toward Vung Tau. Behind us lay Tan Son Nhut. Behind us lay Saigon. Both were disappearing beneath a vast shroud of smoke and fire on that fateful April day.
I looked at my watch. It was past one in the afternoon. Inside the cockpit, the tension remained as tight as a drawn wire. No one dared believe that we were truly safe. Major Điện continued flying, desperately wanting to land at Con Son because his wife and children had been taken there earlier that morning.
I continued working the radios, monitoring several frequencies as we tried to determine our next course. The open air-traffic frequencies were filled with overlapping voices, calls, instructions, questions, conflicting suggestions. Some came from other aircraft. Some came from control stations. Others came from senior officers inside our own cockpit. One wanted to fly directly to Bangkok and seek asylum. Another suggested Utapao, Thailand.
While everyone argued, Major Phan Vũ Điện remained focused on flying the Hercules. Finally, he could take no more. He turned toward everyone in the cockpit and shouted, “Please be quiet, I’m the one to make the decision where to go!”
Over the radio, the control stations at Con Son and Phu Quoc told us there was nowhere for us to land. It was very unsafe. Prisoners had escaped and were running wild. Hearing this, Major Điện released the controls, covered his face with his hands, and wept, calling out the names of his wife and children. I took the controls for a while, I flew the aircraft and continued to handle the radio communications.
When Major Điện had regained his composure, he returned to the controls. He then suggested ditching the aircraft at sea so that the U.S. Seventh Fleet could rescue us. But everyone strongly opposed since it was very dangerous. Besides that, there were more than one hundred lives aboard, many of them may not be survived.
The radio was filled with voices from other friendly aircraft calling to one another, urging everyone to head directly for the Royal Thai Air Force base at Utapao.
After several minutes of discussion, we finally reached a common decision. Utapao. The Hercules slowly changed course. No one spoke anymore. Each of us withdrew into his own thoughts. I sat quietly in the co-pilot’s seat, my eyes fixed on the flight instruments. Beyond the cockpit windows, the South China Sea stretched endlessly beneath our wings. Ahead of us was a horizon we had never known. No one knew what waited beyond it.
After more than two hours of flight from Tan Son Nhut, around Vung Tau, and onward toward Utapao, Thailand, the Hercules began its descent. Utapao Air Base lay ahead. The clock showed a little after three in the afternoon. It was April 29, 1975.
When the wheels finally touched the runway, the entire aircraft shuddered as the brakes took hold. No one had to say anything. Almost everyone seemed to exhale at once. We had survived. The Hercules continued taxiing toward the parking area. One by one, the engines fell silent. For a brief moment, the entire aircraft was quiet. The crew. The more than one hundred passengers. After hours of tension that had seemed impossible to survive, we each needed a few seconds simply to believe that we were still alive.
When the doors opened, a group of American servicemen quickly boarded. They worked with practiced efficiency, collecting and confiscating all weapons before directing everyone off the aircraft. There was no explanation. No protest. No argument. More than one hundred people silently walked off the Hercules and into the processing area.
I was among the last to step away from the aircraft. When my feet touched the ground, I turned and looked back. The Hercules stood there. The aircraft that had carried us through the gates of death. It was the last time I would ever stand beside a military aircraft of the Republic of Vietnam Air Force.
Another group of American servicemen brought over a ladder. They climbed up and quickly sprayed paint over the Republic of Vietnam flag on the fuselage. Then they removed the aircraft’s identification numbers. I stood there watching in silence. Something inside me tightened until it hurt. I felt as though I might cry. Only then did I begin to understand. A chapter of my life had just ended.
I did not cry. But from that moment on, an immense uncertainty settled over me. I did not know whether I would ever have the chance to return to my family, to my homeland.
We followed the American soldiers quietly toward the refugee holding area. The distance was not far but for me, it was the longest road I had ever walked. With every step, I was leaving my homeland farther behind.
No one had the heart to speak. Now and then came the cries of children, exhausted and thirsty. The adults walked in silence, each carrying a private grief. Some turned back from time to time to look toward the airfield. Others clutched small bags against their bodies as though those few possessions were all that remained of their lives. Three of us walked together silently but simply seeing one another there, amid that endless stream of refugees, was already a kind of comfort.
At the holding area, American soldiers handed out drinking water and a little food. Only then did I realize that, amid everything that had happened since morning, I had completely forgotten that we had not eat or drink for the entire time. I held the bottle of water in my hand and drank slowly, one small swallow at a time.
For the first time in many hours, I felt the full weight of my exhaustion. I lowered myself onto the concrete floor and leaned against a wall. Then I looked around. Hundreds of faces. Hundreds of lives. Some had been officers that very morning. Some pilots. Some civil servants. Some simply mothers and fathers living ordinary lives inside the base. And then, within the space of a few short hours… they had all become refugees in a neighboring country. No one knew where tomorrow would take them. No one knew what the future held.
I looked up at the clear blue sky over Utapao. It was peaceful. Almost impossibly peaceful. So different from the sky of smoke and fire we had just left behind. I looked at my two brothers. And my heart suddenly ached for our parents, for our brothers and sisters. Where were they now? Were they alive? Were they safe?
Despite everything, I still believed the fighting would eventually subside. Surely, someday, I would return. Surely, someday, I would sit again with my parents and my brothers and sisters. I had no idea then how wrong that hope would prove to be. I could not have known that the flight aboard that Hercules on the afternoon of April 29, 1975, was not merely taking me away from Tan Son Nhut. It was taking me away from my homeland. For more than half a century.
| « Nhớ nụ hôn xưa – THE KISS WE ONCE KNEW | TRANG NHÀ |

