HỌP MẶT KHOÁ 4/69 SVSQKQ- Tháng 6/2026
ngày 19.06.26Chúng tôi đáp chuyến bay giữa khuya về sáng – ngày 3/6 – từ phi trường Hobby Houston đi Nam California. Chuyển máy bay ở Phoenix, Arizona 1 tiếng rồi về tới phi trường Long Beach lúc 10g sáng. Thuê xe xong chạy một mạch về nhà vợ chồng người bạn nối khố là Đặng Phước ở San Marcos, gần San Diego.
Khí hậu nơi nầy mát mẻ tuyệt vời, ngược chiều với Houston, Texas. Vợ chồng hắn đón tiếp chúng tôi luôn luôn niềm nở như đã từng. 57 năm từ ngày quân trường xưa lại sống dậy để trong nhà ngoài ngõ đều “mầy mầy tao tao” loạn cào cào, dù đứa nào tuổi cũng đã tròm trèm tám thập niên.
Hết ăn ở nhà đến loanh quanh các tiệm quán quanh vùng với một số bạn bè cũ, thân hữu xưa của cả hai trong hai ngày, rồi tạm biệt để trở lên Orange County sơm, tham dự tang lễ của chị cả Mimi Ngọc và là chị vợ bạn cùng khoá Đặng Trường Yên.
Miền Nam California nắng chan hoà nhưng rất may tôi không kịp mang nắng nóng Houston về đây. Những hàng cây dọc những con đường rộng rãi, sạch sẽ như thể chúng được trồng ra không phải để che bóng, mà để giữ lại những kỷ niệm của một thời khai phá của tập thể người Việt tỵ nạn đầu tiên ở mảnh đất nầy.
Người ta nói nơi nầy là Tiểu Saigon, là nơi “đất lành chim đậu,” là “thủ đô tỵ nạn” của người Việt. Vâng, ở Mỹ có hơn hai triệu người tỵ nạn mà ở đây đã chiếm trên dưới ¼ con số đó, chưa kể những Việt kiều tới đây sau nầy với nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Khi nào có dịp về Orange County, chúng tôi thường trú ngụ tại nhà vợ chồng Đỗ Văn Khanh và Thu. Vợ chồng nầy luôn ưu ái tiếp đãi chúng tôi nồng hậu. Đỗ Văn Khanh là một trong mấy cột trụ giữ gìn căn nhà Khoá 4/69 từ tài chánh đến kết nối, giữ anh em trong vòng thân ái. Dù chung một khoá nhưng hai đại đội khác nhau, lại không cùng ngành nên suốt thời gian quân ngũ chúng tôi không thân thiết nhau, cho đến khi tôi tổ chức hội ngộ khoá đầu tiên – năm thứ 38 – tại Houston, Thu Khanh là cặp duy nhất – thuộc nhóm kỹ thuật – đã bay từ Cali qua tham dự. Kể từ đó, tình anh em, tình chiến hữu càng ngày càng gắn bó.
Kể từ đó, gần như hàng năm, khoá 4/69 vẫn tiếp tục tổ chức hội ngộ; hết Houston đến Cali, đến Florida, Minnesota, Hawaii, hoặc trên các chuyến du thuyền. Càng họp mặt càng thân tình; thế nhưng, mỗi lần đều thưa thớt dần vì thời gian đã không chờ đợi một ai! Có người sắp hàng tử tế, có người “cắt line” đi ngang. Thôi thì:
80 chắc đã khá già
Sắp hàng cũng được, vô ra mặc tình
Thế nên, lần hội ngộ nầy chỉ vỏn vẹn có 20 con nhạn. Một số có đôi có cặp, một số già bệnh, một số bận làm đại sứ giữ cháu… dĩ nhiên một số đông đã “đội nón ra đi!”
Hội ngộ của những cánh chim bạt gió, của những người đã đi qua chiến tranh, qua tan rã của một quốc gia, qua nửa thế kỷ lưu lạc. Thôi thì, “Còn bao nhiêu vui bấy nhiêu.”
Có những cái bắt tay thật chặt, có những cái ôm đến rất nhanh, những nụ cười rạng rỡ. Có những tiếng gọi “mầy tao” bật ra như phản xạ của tuổi hai mươi, dù người gọi và người được gọi đều đã mang dáng dấp của tuổi hoàng hôn. Mà lạ thay, trong khoảnh khắc ấy, thời gian như quay ngược lại, những tiếng “mầy tao” vang vang, xen lẫn những từ “anh” có hơi gượng ép.
TỪ QUANG TRUNG ĐẾN NHỮNG VÙNG TRỜI XA
Lũ chúng tôi gặp nhau lần đầu năm 1969. Là những thư sinh vừa rời ghế nhà trường, chỉ khác nhau là ở thành hay ở tỉnh. Không ai trong số đó biết rằng mình đang bước vào một đoạn đời sẽ kéo dài hơn nửa thế kỷ ký ức. Khi ấy chỉ có quân trường Quang Trung, những buổi sáng bụi đất ở sân tập, bãi tập nắng cháy, những buổi chiều nhạt nắng chạy quanh doanh trại; những buổi chà láng mệt không được nghỉ và vang vang tiếng còi tập hợp, ăn uống cam khổ; khổ nhất đối với những thằng con thành phố, những đứa con nhà giàu, những sinh viên ăn chưa no, lo chưa tới…
Tiểu đoàn Nguyễn Huệ. Đại đội 43, 44.
Những con số tưởng như vô nghĩa, nhưng lại trở thành căn cước tinh thần của cả một đời người.
Có người từng bay qua những vùng trời không còn trên bản đồ. Có người nằm lại ở một nơi mà đến bây giờ tên gọi chỉ còn trong trí nhớ của vài người còn sống. Có người đi qua chiến tranh rồi đi tiếp qua những chặng đường khác như trại tù cải tạo, cuộc sống lây lất sau khi mãn tù; trại tị nạn, thành phố lạ, những công việc không tên trên xứ lạ, những đêm không ngủ vì ký ức. Con số 400 giờ họp lại đây, sau 57 năm chỉ vỏn vẹn 20 người!
Nhưng lạ thay, trong những cuộc hội ngộ như thế này, những người vắng mặt không hề biến mất. Họ ngồi ở đâu đó ở những chiếc ghế trống, trong câu chuyện kể của anh em. Trong những câu nói chưa cạn lời, trong những ly bia, ly rượu chưa kịp cạn; hoặc trong những nhắc nhớ kỷ niệm một thời!
NHỮNG KHUÔN MẶT KHÔNG CÒN TRẺ NHƯNG CHƯA CHỊU GIÀ
Người ta thường nói về sự thay đổi của thời gian bằng tóc bạc, da nhăn, dáng đi chậm lại. Nhưng có một điều không thay đổi, đó là chân tình. Chân tình, trong những cái siết tay, trong vòng ôm nhau vội, trong hai tiếng mầy tao, hay trong ánh mắt. Ánh mắt của những người từng chia nhau một đoạn đời sinh tử luôn giữ lại một thứ ánh sáng khó gọi tên. Nó không phải là niềm vui đơn thuần. Cũng không phải là điều gì phiền muộn.
Có người vừa gặp lại, đứng sững vài giây. Chắc cũng có người thân thiết ôm nhau nhưng trong đầu tự hỏi, “thằng nầy tên gì quên mất,” cho tới khi được giới thiệu lại. Không hỏi vì mắc cỡ nhưng vì sợ mình thú nhận đã già; hoặc có nhận ra mà quên mất cái tên cúng cơm hoặc cái biệt danh một thời kêu réo. Rồi những tràng cười bật lên. Không phải cười cho hiện tại mà là tiếng cười từ một nơi rất xa trong quá khứ, vừa mới được gọi về.
BỮA TIỆC KHÔNG MUỐN CHẤM DỨT
Những buổi họp mặt của chúng tôi không có thời khắc. Ăn uống, ca hát giữa những tiếng ồn ào chuyện mưa nắng trong đời, hoặc những kỷ niệm rất cũ mà cứ như mới kể nhau nghe lần đầu. Chúng kéo dài như thể thời gian không còn được tính bằng đồng hồ mà bằng từng câu chuyện. Có những câu chuyện chỉ cần một câu mở đầu là một số người đã hiểu phần còn lại. Có những cái cụng ly không cần lời chúc. Và có những khoảnh khắc mà tiếng ồn của cuộc vui lại chính là cách duy nhất để che đi một điều không ai muốn công nhận đó là sự hữu hạn của cuộc sống con người.
HAI MƯƠI NGỌN ĐÈN CÒN SÁNG
Lần họp mặt nầy có những độc thân tại chỗ như Phạm Đức, Hoàng Văn Hội, Vũ Anh Tú, Tống Hồ Huân, Nguyễn Hỷ Thước, Nguyễn Đức Lê
Những đôi uyên ương gồm có: Đỗ Văn Khanh – Thu, Đặng Trường Yên – Mimi Ngọc, Huỳnh Văn Giàu – Thuý, Trần Ngọc Sanh – Phương, Đặng Phước – Xuân Lang, Lê Hồng Anh – Thuỷ, Nguyễn Văn Cử – Vân, Phạm Văn Lan – Hà, Nguyễn Thành Bá – Vân, Nguyễn Văn Nô – Thoa, Nguyễn Thanh Sơn – Đính, Bùi Huy Sơn – Loan, Trần Phương – Nga, Trương Nguyên Thuận – Ngọc Bích.
Ngoài ra chúng ta có một số thân hữu vẫn thường xuyên tham dự với anh chị em những lần hội ngộ như các anh chị Tuấn Đoan, anh chị Đàm Bộ, anh chị Toán Mai, vợ chồng Hiệp Oanh, Trần Sự, đặc biệt có sự hiện diện lần đầu là anh chị Nguyễn Đình Chiến – một chiến sĩ, một bạn thơ của tôi với biệt danh “Người Lính Làm Thơ Như Viết Sử”. Anh chị tỏ vẻ cảm động trước tình cảm anh em của khoá. Hôm sau có chị quả phụ Vũ Kế Lịch ghé qua (vì không liên lạc được với chị cho đến ngày hôm sau).
Tổng số gần 50 người mà nhà Thu Khanh vẫn thừa sức chứa. Ồn ào như vỡ chợ mà lối xóm không ai than phiền. Có lẽ vì nể trọng ông Trùm Khanh Xóm Đạo.
Có lẽ ai cũng tự hỏi, “Sao ít quá.” Vâng, ít thiệt so với con số 400 ngày nào. Nhưng chúng tôi không nhìn con số theo cách đó. Hai mươi ở độ tuổi nầy khi mà anh em mỗi người một phương trời, mỗi người một hoàn cảnh, chưa nói tuổi già sức yếu. Ở Mỹ đã rộng bao la, huống chi còn những nước khác trên thế giới. Hai mươi đã là một cố gắng phi thường sau một hành trình dài hơn nửa thế kỷ. Hai mươi là những ngọn đèn vẫn còn cháy sau khi những giông bão cuộc đời đi qua, là đại diện cho cả một thế hệ.
Có một điều mà những người thuộc Khoá 4/69 luôn có quyền hãnh diện khi nhìn lại chặng đường đã qua; đó là tinh thần gắn bó hiếm có giữa những người đồng môn sau hơn nửa thế kỷ. Kể từ ngày cùng bước chân vào Quân Trường Quang Trung năm ấy, đến nay đã tròn năm mươi bảy năm, nhưng sợi dây huynh đệ vẫn trường tồn.
Điều đáng quý là sự gắn bó ấy không chỉ được duy trì bằng những cuộc họp mặt để ôn lại chuyện cũ, nhắc nhớ một thời trai trẻ khoác áo chiến binh, mà còn được gìn giữ bằng nghĩa tình chân thật giữa những con người đã cùng chia sẻ một đoạn đường lịch sử đầy biến động. Cuộc chiến đã lùi xa, thời gian đã phủ bạc mái đầu, mỗi người một số phận, một phương trời, nhưng tình đồng môn chiến hữu vẫn âm thầm hiện diện trong đời sống của mỗi người như một phần ký ức không thể tách rời.
Qua năm tháng, anh em vẫn luôn hướng về nhau với tất cả sự quan tâm và trách nhiệm. Người khỏe mạnh nâng đỡ người đau yếu khi có thể; người may mắn hơn chia sẻ với người còn khó khăn. Đặc biệt, tình tương thân tương ái ấy còn được thể hiện qua những nghĩa cử đầy tình người dành cho các đồng môn còn ở lại quê nhà, mỗi khi gặp hoàn cảnh ngặt nghèo hay cần đến sự trợ giúp của bằng hữu phương xa. Những việc làm ấy dù không phô trương nhưng lại nói lên giá trị đích thực của tình chiến hữu.
Và rồi, theo quy luật nghiệt ngã của thời gian, những người bạn năm xưa cũng lần lượt rời khỏi hàng ngũ. Mỗi lần nhận tin một đồng môn ra đi là thêm một khoảng trống trong lòng những người ở lại. Dù cách nhau, anh em vẫn cùng nhau tưởng niệm, chia sẻ niềm tiếc thương, cùng tiễn đưa người bạn cũ bằng tất cả lòng trân trọng và tình nghĩa đã được vun đắp suốt một đời người qua những vòng hoa phúng điếu yêu thương và những lời cầu nguyện chia sẻ mặn mà với tang quyến.
Có lẽ chính vì vậy mà Khoá 4/69 đã trở thành một nét son đặc biệt trong đại gia đình Sinh Viên Sĩ Quan Không Quân Việt Nam Cộng Hoà. Sau năm mươi bảy năm dâu bể, điều còn lại không chỉ là những kỷ niệm của một thời quân ngũ, mà còn là một tình bằng hữu thủy chung, bền bỉ và nhân ái; một di sản tinh thần quý giá mà thời gian không thể làm phôi pha.
Điển hình, trong dịp hội ngộ lần nầy, một số đông anh em đã mở lòng đóng góp cho tiệc hội ngộ; thế nhưng người nhận số tiền đó – Mimi Ngọc, Thu Khanh… – đã không dùng vào chi phí tiệc tùng mà dùng toàn bộ số tiền thu được sung vào quỹ của khoá. Quỹ nầy duy nhất để lo những công việc như đã kể trên. Mimi Ngọc, ngoài tài nội trợ cho tất cả những lần hội ngộ (dù có vài lần “què chân” vẫn không rời trách nhiệm của mình), nàng còn là một người chủ động những cuộc vui (entertainer) cho khoá. Chúng tôi ai nấy đều công nhận, nếu Trùm Khanh và Thu là nơi kết nối anh em của khoá thì Mimi Ngọc và Yên lại là linh hồn của khoá.
VẪN CÒN LƯU LUYẾN
Trong buổi tiệc, Lt. Nguyễn Thanh Sơn Khu Trục – tự Sơnshit – rất hăng hái mời tất cả anh chị em năm sau về Sacramento – thủ phủ California – hội ngộ ở nhà của anh chị. Mọi người đều nao nức hứa hẹn.
Sau buổi tiệc, những anh chị em ở vùng San Diego và các vùng lân cận đã “tan hàng cố gắng” trong lưu luyến. Vợ chồng tôi còn ở lại nhà Thu Khanh thêm vài hôm để cùng ông Trùm… thu dọn chiến trường.
Sáng hôm sau, Mimi Ngọc đến sớm, cùng với chủ nhà Thu lo buổi ăn sáng. Một lúc sau thì Phạm Đức, Hoàng Văn Hội, và vợ chồng Dr. Nô đến nhà Thu Khanh cùng dùng bữa, đón tiếp quả phụ Vũ Kế Lịch được một lúc rồi chào từ giã về lại San Jose. Thêm một lúc nữa, vợ chồng Nguyễn Thanh Sơn đến chào từ giã về lại Sacramento.
Buổi trưa, Trực Thăng Nguyễn Đức Lê mời số anh em còn lại đến văn phòng ăn uống thoả thích, nói dăm ba chuyện trên trời dưới đất, gặp các bạn thơ văn, rồi thay nhau đọc thơ… cả buổi chiều. Nguyễn Đức Lê đã làm cho nhiều anh em bội phục về tài thuộc làu những bài thơ đặc biệt quen thuộc của các lão thi sĩ tiền bối.
Ngày hôm sau nữa, trước khi chúng tôi lên phi cơ, vợ chồng A37 Huỳnh Văn Giàu và cô giáo Thuý đã mời một số anh chị em đến nhà đãi tiệc. Cô giáo Thuý đã tự tay làm tất cả nhiều món ăn rất ngon, hãnh diện khoe thành tích và tuyệt đối cấm không cho bà nào vào bếp dù để phụ hoặc tình nguyện rửa chén. Tiệc chưa tàn nhưng hai chúng tôi đã phải lưu luyến chia tay.
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG AI MUỐN NÓI RA
Trong những cuộc hội ngộ như thế, luôn có một điều không được nói thành lời. Không phải vì không biết nói mà vì ngại nói ra thì không còn đủ sức chứa. Đó là cảm giác “gặp nhau lần nầy có thể là lần cuối”. Dù không ai muốn thừa nhận điều đó nhưng chắc ai cũng hiểu. Hiểu trong cách siết tay lâu hơn bình thường. Hiểu trong cách nhìn nhau kỹ hơn bình thường. Hiểu trong cách chụm nhóm cùng nhau chụp một tấm hình.
NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI CỦA MỘT ĐƯỜNG BAY
Nếu phải nói điều gì còn lại sau tất cả những cuộc gặp gỡ ấy, thì có lẽ không phải là tiệc tùng, cũng không phải là những câu chuyện cũ mà là một điều đơn giản hơn, “Chúng ta vẫn còn tìm đến nhau sau bao nhiêu thăng trầm dâu bể.” Vẫn còn có thể gọi nhau hai tiếng mầy tao thân thương dù tóc trên đầu đứa nào cũng đã bạc trắng – nếu không nhuộm. Vẫn nhớ nhau trong những câu chuyện không cần kiểm chứng. Và vẫn còn ngồi lại bên nhau nói cười thoải mái như ngày nào ở “Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”.
Đặc biệt trong lần hội ngộ nầy, tôi có soạn một bản nhạc cho khoá gửi kèm theo đây – Khoá 4/6 Mình Còn Gặp Nhau – dùng Suno thực hiện và trình bày và được Lt. Nguyễn Văn Khẩn vui vẻ thực hiện một video rất đẹp. Video nầy tôi đã để lên youtube (Lt Nguyễn Văn Khẩn ở Houston, TX không thể tham dự vì phụng thể của nửa kia không được ổn; dù vậy cũng đã ưu ái gửi tặng anh em rất nhiều thùng Heineken uống thoải mái.) Anh em trong buổi họp mặt ồn ào chắc có nghe sơ qua, nay mời nghe lại kỹ hơn để thấm thía. Gửi đến đồng môn, chiến hữu – những người không tham dự được lần nầy để… tiếc.
Kingwood, giữa tháng 6, 2026
| « Có Phải Tình Yêu Đã Vỗ Cánh | TRANG NHÀ |

