VINH NHỤC CÙNG QUÊ HƯƠNG – In Honor and in Humiliation
ngày 29.04.26Phải nói thật, con đường đưa tôi vào Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, ngành phi công, không hề dễ dàng. Không dễ dàng vì Ba Mẹ tôi nhất quyết tôi phải học ngành Y. Gia đình đã có hai anh trong quân đội. Đó không chỉ là một chọn lựa nghề nghiệp, mà là một giấc mơ, một đam mê gần như định mệnh. Niềm đam mê nầy xuất hiện sau khi tôi nghiền ngẫm tập truyện Đời Phi Công của nhà văn Không Quân Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh lúc còn ở ghế nhà trường.
Khi được chọn, tôi đã từng cầu mong, từng hy vọng mình sẽ được trở thành phi công bay loại chiến đấu cơ với tất cả niềm kiêu hãnh như trong cốt truyện. Thế nhưng số phận của tôi lại rẽ sang một hướng khác.
Dù thành tích bay của tôi thuộc loại khá ở trường huấn luyện, tôi vẫn không đạt được điều mong muốn. Khóa học khi ấy chỉ có duy nhất các loại vận tải cơ mà loại to lớn nhất, tối tân nhất được Mỹ viện trợ cho KQVN thời bấy giờ là vận tải cơ C123K. Tôi đã tìm cách thi rớt để ở lại khoá sau vì nghe nói sẽ có khu trục. Nhưng thầy dạy và người giám định không cho rớt, rồi thầy đã thay tôi chọn loại phi cơ này. Tôi đành chấp nhận, không phải vì hết đam mê, mà vì chiến tranh lúc đó không cho mình có nhiều chọn lựa.
Khi vận tải cơ C-123K được thay thế bằng C-130A, loại phi cơ vận tải lớn nhất và hiện đại nhất của Không Quân VNCH lúc bấy giờ, tôi lại được chọn thuyên chuyển về một trong hai phi đoàn. Đó là một niềm vui và hy vọng mới. Nhưng rồi thực tế lại kéo tôi về một ngả khác.
Số là loại phi cơ tối tân, vận tải đa dạng nên có rất nhiều phi công đàn anh được tuyển chọn về; vì thế, tôi đã phải chờ đợi tới phiên mình được cho huấn luyện. Chờ đợi… không phải vài ngày, mà là một khoảng thời gian không xác định. Chờ cho tới khi các phi công có cấp bậc cao hơn huấn luyện xong. Sự chờ đợi đó, trong thời chiến, là một điều khó chịu. Không phải vì nôn nóng thăng tiến, mà vì tôi muốn được đi bay, ngồi vào ghế phi công mỗi ngày, muốn được góp phần vào cuộc chiến đang mỗi ngày một khốc liệt hơn.
Cuối cùng, tôi quyết định xin chuyển qua một đơn vị và loại máy bay khác – loại vận tải tác chiến với phi cơ AC-119K, một loại máy bay tân tiến và hiệu quả nhất để chống tăng, chống biển người của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Tôi đã rất vui mừng vì được tham chiến liên tục ở các chiến trường sôi động của vùng tây nguyên, của vùng hoả tuyến vùng I. Đã cùng những chiến hữu quý mến của phi đoàn Tinh Long tham dự những trận đánh nổi danh ở các quận lỵ miền Trung như Đại Lộc, Thường Đức, Đức Dục thuộc tỉnh Quảng Nam vào những tháng đầu năm 1975. cho tới ngày 27 tháng 3 phải vội vã vượt thoát về Saigon khi phi trường bị địch quân tràn vào.
Loại máy bay nầy cũng là chuyến bay tham chiến cuối cùng của đời phi công của tôi trong đêm 28 rạng 29 tháng 4, năm 1975.
Đêm 28 rạng sáng 29 tháng Tư năm 1975.
Tôi bay phi vụ cuối cùng – mà lúc đó, tôi nào biết đó là “phi vụ cuối cùng”. Khi trở về cư xá sĩ quan độc thân, phi trường đã bắt đầu bị pháo kích. Những tiếng nổ dội trong không gian giữa đêm đen, không còn xa xôi như những lần trước. Chiến trường không ở đâu xa mà chiến tranh đã chạm đến đầu ngõ, nơi đầu não của Miền Nam nước Việt.
Đến gần 7 giờ sáng, thì chúng tôi tận mắt chứng kiến chiếc Tinh Long 7 bị bắn rơi. Một hình ảnh mà đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn không thể quên. Nhưng điều lạ lùng là, ngay trong hoàn cảnh đó, tôi vẫn còn đủ “bình tĩnh” – hay đúng hơn là ngây thơ – để chạy ra khu gia binh mua gạo và nước mắm mang về phòng. Trong đầu tôi khi ấy chỉ nghĩ đến việc chuẩn bị cho những ngày khó khăn sắp tới cho ba anh em chúng tôi. Hai đứa học trò tôi mới mang được vào trong căn cứ trưa ngày 28.
Ở khu gia binh, tôi thấy người người xôn xao, chạy tán loạn. Không khí hoảng loạn lan nhanh như một cơn gió nóng. Tôi chợt hiểu rằng tình hình đã vượt khỏi những gì mình có thể tưởng tượng. Tôi vội vã chạy vào phi đoàn để xem tình trạng ra sao. Cảnh tượng trước mắt là một sự hỗn loạn chưa từng thấy. Mọi thứ ngổn ngang. Người chạy xuôi, kẻ chạy ngược. Không còn trật tự, không còn chỉ huy rõ ràng. Mỗi người dường như đang tự tìm cho mình một lối thoát.
Tôi quay trở về phòng, chở hai đứa em trên chiếc Lambrettite, ngược xuôi đi tìm phi cơ đặng thoát thân. Nhưng gần như đã quá muộn.
Những chiếc khả dụng đều đã rời khỏi bãi đậu. Có người nói rằng nhiều phi công đã đưa gia đình đi trước – Côn Sơn, Phú Quốc… những cái tên vang lên như những chiếc phao cuối cùng giữa biển động.
Chúng tôi vẫn tiếp tục tìm, giữa lúc pháo kích thỉnh thoảng vẫn rơi xuống căn cứ.
Cuối cùng, chúng tôi tìm được một chiếc AC-119K còn có thể sử dụng. Tôi leo lên kiểm tra tình trạng. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, hy vọng lóe lên. Nhưng khi quay xuống… hai đứa em tôi đã biến mất.
Tôi tắt máy, nhảy xuống đi tìm. Và chỉ trong vài phút, khi tôi còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, một vài phi công bạn chiếm chiếc máy bay… và đi thoát. Tôi bàng hoàng, chiếc phi cơ tìm được là niềm hy vọng cuối cùng nhưng niềm hy vọng đã biến mất trước mắt tôi.
Một cảm giác trống rỗng khó tả. Tôi đang trong cơn bàng hoàng chưa biết hành xử ra sao thì thấy hai chú em chạy trở lại. Chúng cho biết muốn chạy về quê tìm gia đình nhưng không ai có thể ra được. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Người ta chen chúc, la ó, hỗn loạn. Quân cảnh phải bắn chỉ thiên, rồi bắn xuống đất để giải tán. Chúng nó cùng mọi người phải quay trở vào.
Ba anh em đang đứng ngơ ngác giữa một không gian như trống trải vô cùng. Bỗng nhiên, một chiếc pick-up chạy ngang, Thiếu Tá P.V. Điện cầm tay lái, gọi lớn, “Th! Đi theo anh, anh cần co-pilot!”
Như bắt được vàng, ba anh em chạy theo rất xa tới bãi đậu của một chiếc C130A còn sót lại vì một số phi cụ hư hỏng.
Chiếc máy bay cất cánh trong tình trạng gần như không tưởng. Xuất phát từ giữa phi đạo, không đủ khoảng cách để đạt tốc độ tối thiểu. Khi kéo cần lên, thân máy bay rung lắc dữ dội, như muốn rơi xuống bất cứ lúc nào. Tôi còn nhớ rõ cảm giác lúc đó – một sự căng thẳng đến nghẹt thở, như thể sinh tử chỉ cách nhau một sợi chỉ mong manh.
May mắn thay, nhờ bốn động cơ bán phản lực, chiếc phi cơ từ từ gượng lên được. Chúng tôi lấy hướng ra Vũng Tàu để bay qua Phú Quốc hoặc Côn Sơn. Nhưng trên tần số, được những người khác cho biết cả hai nơi đều không thể đáp được nữa. Không còn lựa chọn nào khác, chúng tôi quay đầu về hướng căn cứ Không Quân Utapao, Thái Lan.
Máy bay đáp sau 3g chiều, mang theo tổng cộng 115 con người. Một con số không nhỏ cho một chuyến bay không được chuẩn bị cho việc di tản.
Từ đó, hành trình của chúng tôi tiếp tục… từng chặng, từng chặng một. Từ Thái Lan, sang Guam… rồi đến Eglin AFB, Florida. Mỗi nơi dừng lại là một bước xa lìa đất mẹ, và cũng là một bước sâu hơn vào một cuộc đời mới mà chúng tôi không thể hình dung được.
Ở Eglin AFB, chúng tôi ở lại khoảng hai tuần. Liên lạc thường xuyên với bà Mẹ nuôi người Mỹ – người quen từ những năm tôi còn đi học bay ở Texas – bảo lãnh chúng tôi ra khỏi trại.
Thứ Bảy đến nhà.
Chủ Nhật cùng bà đi lễ.
Và Thứ Hai… đi làm với người quen của bà trong họ đạo.
Chỉ vậy thôi.
Một cuộc đời mới bắt đầu. Không nghi thức. Không chuẩn bị. Không lựa chọn.
Hơn năm mươi năm đã trôi qua.
Nhìn lại, chính tôi cũng không thể tin rằng mình đã đi qua một chặng đường dài đến như vậy. Từ một chàng thanh niên bỏ sách vở, bỏ giảng đường để chạy theo giấc mộng bay bổng, đến một người tỵ nạn nơi xứ người, để rồi dần dần xây dựng lại cuộc sống ở quê hương thứ hai.
Có vinh. Có nhục. Có mất mát. Có hồi sinh.
Nhưng có một điều không bao giờ thay đổi, đó là sợi dây tình cảm gắn bó với quê hương. Mỗi năm, cứ đến tháng Tư, nỗi đau ấy lại trở về dù không mong đợi, nó cũng không réo gọi ầm ĩ và cũng không cần ai nhắc nhớ… Chỉ là một cảm giác nhói lên trong lòng như một vết thương mưng mủ khi vô tình đụng phải!
Một nỗi thương nhớ không thể gọi tên. Một phần đời… đã mãi mãi ở lại với không gian, với trời mây cũ. Một cuộc đời không còn mới sau hơn nửa thế kỷ, giờ ngồi nhìn lá vàng rơi bỗng như có mịt mù sương khói.
Tháng Tư 2026
In Honor and in Humiliation, With My Homeland
To tell the truth, the path that led me into the Republic of Vietnam Air Force—as a pilot—was anything but easy.
Not easy, because my parents were determined that I pursue medicine. Our family already had two sons in the military. For them, my future was meant to follow a safer, more honorable path. But for me, it was never simply a career choice—it was a dream, a calling, almost a matter of destiny.
That dream took root when I was still a student, after immersing myself in The Life of a Pilot by Air Force writer Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. From those pages, the sky began to speak to me.
When I was finally selected, I prayed—truly prayed—that I would become a fighter pilot, flying combat aircraft with the pride and fire I had imagined. But fate, as it often does, had its own design.
Though my flight performance in training ranked well above average, I did not receive the assignment I had hoped for. At the time, there was only one available track: transport aircraft. The largest and most modern among them, supplied by the United States, was the C-123K.
I even tried—quietly—to fail, hoping to remain for the next class rumored to include fighter training. But my instructors would not allow it. In the end, one of them chose the aircraft for me.
And so I accepted—not because my passion had faded, but because war leaves little room for personal preference.
When the C-123K was later replaced by the C-130A—the largest and most advanced transport aircraft in the South Vietnamese Air Force—I was selected for transfer to one of its squadrons. It felt like a second chance, a renewed hope.
But again, reality intervened.
Because the aircraft was so advanced and versatile, many senior pilots were reassigned to it first. I was told to wait my turn.
Wait—not for days, but indefinitely.
In wartime, waiting is a heavy burden. Not because of ambition, but because I longed to fly, to sit in the cockpit, to take part in a war that was intensifying by the day.
In the end, I made a decision: I requested transfer to a combat transport unit flying the AC-119K—a heavily armed aircraft designed for battlefield support against armored columns and massed ground forces. At that time, it was among the most effective weapons in our arsenal.
That decision brought me into the heart of the war—over the Central Highlands, over the fire-scorched lands of Military Region I. I flew missions over places whose names would later become etched in memory: Đại Lộc, Thường Đức, Đức Dục in Quảng Nam.
And it was aboard this aircraft that I would fly the final combat mission of my life.
The night of April 28th into the early hours of April 29th, 1975.
That night, I flew what would become my last mission—though I did not yet know it.
When I returned to the officers’ quarters, the airbase was already under artillery attack. The explosions were no longer distant echoes—they had come to our doorstep. The war was no longer somewhere out there. It had arrived.
Near 7 a.m., we witnessed the downing of Tinh Long 7.
Even now, more than half a century later, that image remains unforgotten.
And yet, strangely, in the midst of it all, I was still calm—perhaps not calm, but naïve enough—to go to the family quarters and buy rice and fish sauce. In my mind, I was preparing for hard days ahead for the three of us—my two younger brothers, whom I had just brought into the base the day before.
At the family compound, people were running in panic. Fear moved like a hot wind. I realized then that the situation had surpassed anything I could have imagined.
I rushed back to my squadron.
Chaos.
Utter chaos.
No command, no order—only individuals searching for their own escape.
I returned to my quarters, loaded my two brothers onto my Lambretta, and we began searching for an aircraft.
But it was almost too late.
Most operational planes had already departed. Some said pilots had taken their families to Côn Sơn, Phú Quốc—names that now sounded like distant lifeboats.
Still, we searched.
Under intermittent shelling, we kept going.
Finally, we found an AC-119K that seemed operational. I climbed aboard to check its condition.
For a brief moment—hope.
But when I climbed down…
My brothers were gone.
I shut down the engines and ran to find them. Within minutes—before I could grasp what was happening—other pilots had taken the aircraft and left.
Just like that, hope vanished.
A hollow feeling followed.
Then, suddenly, my brothers reappeared. They had tried to escape the base to return home, but the gates were sealed—crowds, shouting, gunfire into the air, even shots fired at the ground to disperse them.
They had no choice but to return.
We stood there—lost, stunned—when suddenly a pickup truck sped past. Major P.V. Điện leaned out and shouted:
“Thuận! Come with me—I need a co-pilot!”
Like drowning men grasping at air, we ran after him.
The aircraft we found was a C-130A.
Its takeoff was nothing short of miraculous.
We began from midway down the runway—far too short to reach safe takeoff speed. As we pulled back, the aircraft shuddered violently, as though it might fall from the sky at any moment.
I remember the feeling clearly: a suffocating tension, life and death balanced on a thread.
But the four engines—half jet, half prop—gradually lifted us.
We headed toward Vũng Tàu, intending to reach Phú Quốc or Côn Sơn. But over the radio, we learned neither was viable.
There was only one option left.
We turned toward Utapao Air Base in Thailand.
We landed shortly after 3 p.m., carrying 115 souls—far beyond what the flight had been meant for.
From there, the journey continued.
Thailand… Guam… then Eglin Air Force Base in Florida.
Each stop carried us farther from our homeland—and deeper into an unknown life.
At Eglin, we stayed about two weeks before being sponsored out by an American foster mother I had known during my flight training in Texas.
Saturday—we arrived.
Sunday—we went to church with her.
Monday—we went to work.
That was all.
A new life began.
No ceremony.
No preparation.
No choice.
More than fifty years have passed.
Looking back, even I can hardly believe the distance traveled.
From a young man who left medical school to chase the sky… to a refugee in a foreign land… to someone who slowly rebuilt a life in a second homeland.
There was honor.
There was humiliation.
There was loss.
There was renewal.
But one thing has never changed—the invisible thread that binds me to my homeland.
Every April, without fail, the pain returns.
It does not call out loudly.
It does not need to be summoned.
It simply rises—like a wound touched by accident, still tender after all these years.
An unnamed longing.
A part of life forever left behind—among old skies and fading clouds.
Now, in the twilight of a life no longer new, I sit watching falling leaves… and feel, once again, the quiet drift of memory like mist.
April, 2026
| « Chương trình Văn Học Tháng 4/2026 | TRANG NHÀ |

