Tháng Tư Hận, Tháng Tư Đau
ngày 17.04.26(Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về.
Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết buồn bã nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về…
Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can.
Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình.
Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính.
Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng.
Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay.
Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại.
Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn.
Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ.
Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi.
Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không?
Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh.
Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại.
Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết.
Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân.
Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả.
Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ.
Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào.
Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ.
Thế là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được!
Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có.
Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc.
Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy.
Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc!
Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ.
Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác.
Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm.
Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất.
Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người.
Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng.
Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng:
Sợ một mai thân nằm yên lòng đất
Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà
Năm mươi mốt năm trôi qua.
Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình?
Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất.
Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được.
Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn.
Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn.
Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị.
Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi.
Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng.
Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên.
Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa.
Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy.
Tháng Tư lại đến.
Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi.
Tháng Tư hận.
Tháng Tư đau.
Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về
Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng.
Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
APRIL OF RESENTMENT, APRIL OF PAIN
(Written for myself, written on behalf of others)
April returns.
No one needs to remind me, no clear sign is required—only when the lingering echoes of the sadly Lunar New Year in this foreign land begin to fade, or when a pale spring afternoon settles over a quiet, solitary yard, my heart sinks. And I remember…
There are months that pass like mere numbers. There are months that drift by like habits. But there are also months that never leave a person’s life. That is April.
April, to me, is not an ordinary measure of time. It is a mark etched deep within the soul—a pain, a wound carved into the spirit, a place where memory halts, spirals downward, then spreads outward, filling the entire being.
There are pains without sound, without tears, without lament. They lie still, deep and long, like a small shard of metal embedded in flesh—not enough to kill, but enough to ache with every movement. And April is when that shard turns.
On the night of April twenty-ninth, that year, I was still a soldier.
Not the image of a soldier in books—with clear frontlines and precise commands—but a man standing in the midst of a reality coming apart. To the west of Saigon, around the perimeter of Tân Sơn Nhứt Air Base… we were still fighting. Not because we believed in victory, but because we could not let go. We could not surrender.
There are things, once they have seeped into the blood—honor, responsibility, an oath—that cannot easily be set down, cannot be abandoned, even when everything is slipping beyond reach.
In those final hours, war was no longer war in the familiar sense. It was no longer a game of strategy. It became a great wave. And we were men standing before that violent surge, struggling to keep our balance on what fragments remained.
Gunfire continued. But it no longer carried the rhythm of tactics. It pounded like the heartbeat of an exhausted body. Each shot was no longer aimed at victory, but was instead a way to cling to a fragile hope—though we knew that hope was nearly gone.
And yet, we could not fire carelessly. Ammunition was nearly exhausted. Each bullet was counted like the last drop of blood. Meanwhile, the enemy was shielded by dense layers of air defense. We fought in shortage, in disadvantage, in a battle whose outcome had already revealed itself.
America had turned away.
America had abandoned us—the very outpost they once used to resist the spread of Communist doctrine.
Yet we still had to fight—to defend freedom and democracy for our people, for our country.
We took turns flying missions. Flying under brutal conditions, like fighters bound hand and foot, thrown into the ring before a ruthless opponent. One stepped down, another stepped up. No one spoke, yet everyone understood—we were in a hopeless situation.
What sorrow could be greater than that?
I still remember the eyes that night. No words were exchanged beyond the familiar motions, the language of war. Eyes met eyes between flashes of fire and darkness—only to confirm one thing: we still had each other, as we always had when charging into danger, wagering life and death.
No one said it was the final night. Yet everyone felt the helplessness in every bullet fired. Everyone knew something was coming to an end—not just a battle, but an entire era.
As I write this, my vision blurs again. I stand up, walk into the backyard, light a cigarette. The wind moves through the chimes, their faint ringing like a call from a distant realm. I inhale deeply. Exhale hard. Then return to continue writing.
That late-night flight… after handing over our area of responsibility, I returned to the quarters. The two young cadets I had taken in the previous day were still awake—boys I used to joke were too gentle even to tie a chicken.
We had just lain down when the airbase came under heavy bombardment. Then a piercing shriek—a 122mm rocket. But… no explosion followed. It was only the next morning that we realized how narrowly we had escaped death, when we saw the tail of the rocket lodged deep in the ground beside the quarters.
That morning was no ordinary morning. When we saw Tinh Long 7, from my squadron, shot down beyond the perimeter of the air base before the stunned eyes of my comrades, it became the final drop. No words were spoken. Everyone scattered.
I took the two young brothers on a Lambrettite, rushing across the airfield to scour for an aircraft that is still usable to escape. But those that could still fly had already gone. As we stood there, stunned, a senior officer passed by and pulled me along to an unsafe C-130 to be his co-pilot.
The aircraft took off at the end of the runway. Not enough speed. Not enough conditions. Yet it had to rise, forced upward by the thrust of its four turboprop engines. It struggled into the air, heading toward Vũng Tàu… then directly to U-Tapao, Thailand, carrying 115 souls who had somehow made their way aboard.
That afternoon, April 29, 1975, we stood frozen, tears falling, as a group of American servicemen climbed onto the aircraft and painted over the insignia of the South Vietnamese Air Force, after we had all been disarmed before stepping off the airplane.
And so I was forced to leave my country in shock, in a daze without knowing where my parents and siblings had been scattered during the war in the last couple months. Without sending a word to my fiancée, who lived only six kilometers away.
And just like that, I was carried along a journey into exile without family, without homeland.
Even now, more than half a century later, that “not in time” remains within me, an emptiness that can never be filled.
Not in time to see my parents one last time. Not in time to say farewell to those I loved. Not in time to close the chapter of a soldier’s life as it should have been ended.
There are partings without farewell and because of that, they never truly end.
I left in a state not entirely conscious, not only panic but numbness. Everything happened too fast, too suddenly. I had no clear emotions left only action, only instinct. I left as though pushed out of my own life, while still holding onto a fragile belief that it was temporary, that one day I would return, that a homeland could not vanish overnight, that what I had been lived, built, and loved could not simply be erased.
There were times I thought if my sudden departure had led to a better fate for my people, a freer, more prosperous nation, rising strong like a dragon or a tiger… then perhaps the pain would have been less.
But alas… it was not so.
Time, through its long silence, gradually taught me the truth. There would be no return, as I once dreamed about; it doesn’t mean that I did not wish it, but because that path had been sealed from the moment the South fell. And since then, so much suffering has been inflicted upon our people, upon the land of our ancestors.
Losing one’s homeland is not an event of a single day. It is a process. First comes shock. Then hope. Then hope slowly thins away with time. And finally, a silent acceptance not because one agrees, but because there seems to be no other choice.
In those early years in this second homeland, everything was foreign from language, customs, people to life itself. I learned how to be reborn before I learned how to survive. I learned to understand others before I could make myself understood. I learned to stand on my own feet while still quietly waiting for a miracle, for a faint light at the end of a long tunnel.
One can grow accustomed to many things such as weather, different food, new rhythms of life. But one can never grow accustomed to the loss of a homeland.
A homeland is not merely where one is born. It is where everything carries meaning without explanation; a street, a corner, a voice, a scent… all bearing fragments of a life. To lose it is not just to lose a place, but to lose an entire structure of memory, a foundation of one’s existence.
There are mornings when I wake up, for a brief moment, forget where I am. In that moment, I am still the man I once was, living in a familiar city, flying across the skies of southern Vietnam I knew by heart. Then reality returns not loudly, but definitely just like a gentle hand placed upon my shoulder, reminding me that everything has become the past.
Sometimes I am struck by a sudden fear:
“That one day, when my body lies still beneath the earth,
My lonely soul may wander—
Unable to find its homeland.”
Fifty-one years have passed.
How many memories can a lifetime hold? How much loss can a person endure? How much can one preserve without losing oneself?
I have lived. Worked. Rebuilt my life. Known joys, achievements, meaningful relationships. Yet none of it, however real, however meaningful, can replace what has been lost.
I remember the days before 1975. Not because they were perfect, but because they were essential parts of my life. Sunlit mornings, rainy afternoons, windy days, familiar flight paths, vast skies, moments between life and death, encounters, conversations, dreams not yet formed.
An ordinary life, yet only in losing it did I understand that its value could never be replaced.
Memory does not fade with time as people often think. It distills itself. What is unimportant falls away. What remains becomes sharper, purer and therefore, more painful.
And within me, there remains a resentment.
But it is not a simple one. It is not directed toward ordinary people. I do not resent the American people I have met, lived among, and received kindness from. I understand that humanity everywhere shares both good and evil, wisdom and limitation.
But I cannot help thinking of the grave misjudgments of governments and allies, of misguided anti-war movements, of deceptive media that shaped public perception… forces that altered the fate of smaller, vulnerable nations like my South Vietnam.
War is not decided only on battlefields. It is decided within societies, through media, within politics.
When one side loses the support of the world, loses the trust of its allies, then even with weapons, it cannot endure, let alone when those very weapons were ruthless taken away by those once called friends.
My resentment is not to nurture hatred. It is to remember to remind myself, and future generations, so that what happened to my people will not be fading away or forgotten.
And after all that remains not only pain, but a hope.
A hope that one day I may return in freedom, in dignity. Not to rebuild again, but simply to look back. To walk old streets, even if they have been renamed. To hear familiar voices with our own language around once more. To see a homeland radiant again, a society rooted in humanity to truly take pride in being descendants of the Dragon and the Fairy.
At this age, I fear little. I no longer fear loss, for I have lost too much. I no longer fear change, for I have lived through the greatest of changes. I fear only one thing, that I may not have enough time to witness that day. Not enough time to see a worthy ending for my homeland and to know that the suffering I have endured was not in vain.
Waiting is never easy. It was easier when we were young. But now, as time grows short, each passing day carries unease not from desire, but from the fear of never having the chance.
April returns.
Still the gentle morning rains, the drifting clouds of long afternoons, the silences that defy naming… These are not observations of weather or for poetry. They are part of an inner life, a region of memory that opens within me each year at this time.
April of resentment.
April of pain.
Year after year, they return together.
Yet if there were only resentment and pain, no one could endure more than a half of a century. For somewhere deep, small, but persistent, there remains something else.
Hope.
Hope that one day, whether I am still here or not, on that S-shaped country where my people will live in peace and dignity, without fear. That voices will not be silenced. That dreams will not be extinguished.
And when that day comes, perhaps somewhere far away, those who have fallen will smile.
Even if late, perhaps it will still be enough to ease the sorrow, and quiet the resentment
of those warriors once cast into the arena of life and death with their limbs bound.
| « Giới thiệu ca khúc “Võ Đắt…” | TRANG NHÀ |
